Series tự học chỉnh nha: phim sọ nghiêng (phần 2)

Tiếp tục với seri tự học chỉnh nha, trong bài viết này chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu và phân tích các phim sọ nghiêng, phim cephalometric trong chỉnh nha.

3. Phân tích phim Cephalometric – Phân tích răng

3.1. Góc liên răng cửa:

Mô tả góc giữa răng cửa trên và răng cửa dưới. Liên quan trực tiếp đến duy trì và thẩm mỹ.

– Giá trị để có duy trì tốt nhất cũng là giá trị để có thẩm mỹ tốt nhất là 125-130 độ.

– Nếu góc liên răng cửa lớn hơn hoặc bằng 135 độ, chúng ta sẽ điều trị không nhổ răng để nghiêng hàm dưới về góc thuận lợi hơn nữa.

– Nếu răng cửa bắt đầu nhỏ hơn hoặc bằng 115 độ mà có chen chúc, thì chúng ta có xu hướng nhổ răng và kéo lùi răng và dựng thẳng răng.

– Các trường hợp kết thúc có góc liên răng cửa nhọn (ví dụ 100 độ) sẽ thường biểu hiện là cắn chìa quá mức do góc răng cửa trên bị rộng ra.

Phim sọ nghiêng - góc nghiêng răng cửa

3.2. Góc giữa răng cửa dưới và mặt phẳng hàm dưới:

Mô tả độ nghiêng của răng cửa dưới so với mặt phẳng hàm dưới.

– Góc này lớn hơn hoặc bằng 98 độ được xem là “vẩu”.

– Góc nhỏ hơn hoặc bằng 90 độ được xem là “lùi”.

– Răng cửa hàm dưới lùi gặp trong các trường hợp hạng II tiểu loại 2, các trường hợp có thói quen xấu, mất răng 5 sữa sớm, hoặc các trường hợp hạng III.

Góc giữa răng cửa dưới và mặt phẳng hàm dưới

Thông số này được sử dụng để nhận biết các ca hạng III mà có biểu hiện hạng I răng, nhưng thực tế là kiểu tăng trưởng hạng III. Sau khi tháo mắc cài trên những trường hợp có vẻ rất dễ điều trị này, thì khớp cắn lại bị phá vỡ và phát triển lại theo kiểu hạng III. Phối hợp thông số này với góc ANB của các trường hợp có xu hướng hạng III. Nếu một ca trông có vẻ hạng I, nhưng lại có răng cửa dưới lùi và ANB thể hiện xu hướng hạng III thì hãy xem ca này là dạng tăng trưởng hạng III và áp dụng quy tắc điều trị hạng III cho ca này. Các vấn đề sẽ nảy sinh nếu bạn đánh giá thấp trường hợp này và điều trị nó như là một trường hợp chen chúc hạng I trong khi nó thực sự là một ca tăng trưởng theo hướng hạng III. Tỉ lệ các ca lâm sàng như thế này chiếm phần lớn ở Châu Á.

Răng cửa dưới thường ngả ra trước trong các trường hợp cắn đóng xương do mặt phẳng hàm dưới phẳng.

3.3. Răng cửa dưới đến NB:

Mô tả vị trí trước sau của răng cửa dưới trong tương quan với đường NB.

– Giá trị lớn hơn hoặc bằng +6mm được xem là vẩu.

– Răng cửa dưới nhỏ hơn hoặc bằng +1mm được xem là lùi răng dưới.

– Vì đơn vị là milimet, nên đo đạc này sẽ cho phép hình dung dễ dàng hơn việc phải đưa hàm dưới ra bao nhiêu.

– Thông số này được đo bằng khoảng cách từ rìa cắn răng cửa dưới đến đường NB.

Răng cửa dưới đến NB

3.4. Răng cửa dưới so với Apo:

Thông số này được bác sĩ chỉnh nha sử dụng chủ yếu để xác định vị trí của răng cửa dưới trong chẩn đoán egdewise. xuất phát từ suy nghĩ rằng răng cửa dưới ổn định nhất và thẩm mỹ nhất nếu nó ở gần đường APo. Các nghiên cứu của đại học Washington (Seattle) đã chứng minh rằng đường APo KHÔNG dự đoán được độ vững ổn của răng cửa dưới như trước đây vẫn nghĩ. Thực tế, không có một số đo nào chúng ta biết làm được điều này. Thẩm mỹ là quan điểm cá nhân và do đó rất trừu tượng. Thẩm mỹ không được định giá bằng con số. Vị trí vững ổn nhất là vị trí răng mọc tự nhiên, và bất cứ thay đổi nào từ vị trí đó đều gây bất ổn.

– Vẩu răng cửa dưới nếu số đo này lớn hơn hoặc bằng +4.

– Răng cửa dưới bị lùi khi khoảng cách của nó đến APo nhỏ hơn hoặc bằng 0.

– Đường APo cũng nhạy cảm với thay đổi hướng đứng. Trong trường hợp cắn hở xương, Pogonion di chuyển xuống dưới và ra sau, làm cho răng cửa dưới có vẻ như vẩu hơn. Đo khoảng cách từ rìa răng cửa dưới đến đường APo.

Răng cửa dưới so với Apo

3.5. Răng cửa trên so với SN:

Mô tả độ nghiêng răng cửa trên.

– Răng cửa trên được coi là vẩu nếu góc này lớn hơn hoặc bằng 106 độ và lùi nếu nhỏ hơn 100 độ.

– Răng cửa lùi thì rất khó kéo lùi tiếp, đặc biệt là khi không chỉnh torque. Do đó chúng ta có xu hướng điều trị các case này không nhổ răng ở hàm trên. Điều này nghĩa là các trường hợp chỉnh nha không nhổ răng, có thể kèm phẫu thuật chỉnh hình để sửa lệch lạc hạng II nhiều. Nếu bạn nhổ răng cửa trên và hi vọng sẽ kéo lùi được răng cửa chút ít, thì trừ phi bạn phải phẫu thuật xương vỏ khi bắt đầu kéo lùi. Nếu không giải phóng xương vỏ hàm trên thì bạn không thể kéo lùi răng cửa trên. Khe nhổ răng sẽ đóng rất chậm và răng cối trên sẽ bị di gần.

Răng cửa trên so với SN

3.6. Răng cửa trên so với APo:

Mô tả vị trí trước sau của răng cửa trên.

Số đo lớn hơn hoặc bằng 7mm được xem là vẩu, nhỏ hơn 2mm được xem là lùi.

Đường APo có thể tạo ra cảm giác sai lầm về độ lùi của răng cửa trên, (và do đó có thể dẫn đến nhổ răng) trong các trường hợp cắn hở xương có Pogonion quay xuống và ra sau, làm thay đổi đường tham chiếu. Đo từ khoảng cách rìa cắn răng cửa trên đến đường Apo.

Phim sọ nghiêng - Răng cửa trên so với APo

3.7. Răng cửa trên so với trục đứng qua A:

Đặt một đường vuông góc với mặt phẳng Frankfurt ngang đi qua điểm A. Đo bằng milimet từ đường tham chiếu đến rìa cắn răng cửa trên. Con số này là một phần của phân tích McNamara. Vì đường tham chiếu là nền sọ, nên không nhạy cảm với thay đổi hướng đứng, và do đó có thể đáng tin cậy hơn so với đường tham chiếu APo.

Vẩu răng cửa trên nếu giá trị này lớn hơn hoặc bằng +6, lùi nếu nhỏ hơn hoặc bằng +2.

Răng cửa trên so với trục đứng qua A

4. Phân tích mặt

4.1. Góc mũi môi:

Đường tiệm cận vẽ từ môi trên đến bờ dưới mũi. Cho nhận xét về môi trên là vẩu hay lùi.

  • Trung bình 90-110 độ.

  • Lùi răng cửa trên sẽ gây ra tăng góc này, nhưng thay đổi không đúng theo tỉ lệ1:1.

  • Răng cửa lùi được 2-3mm thì môi lùi được xấp xỉ 1mm

Phim sọ nghiêng - Góc mũi môi

4.2. Đường mô mềm (đường E):

Đường tham chiếu về độ lồi hay lõm của môi so với mũi và cằm. Giá trị phụ thuộc chủng tộc hoặc quan điểm cá nhân.

  • Giá trị trung bình của người da trắng xấp xỉ -2mm.

  • Giá trị trung bình của phụ nữ da đen vào khoảng +3 đến +4mm.

  • Con số này cũng phụ thuộc tuổi tác, ở bệnh nhân trẻ hơn thì lồi hơn. Khi tăng trưởng và dậy thì, môi sẽ lõm hơn so với mũi và cằm.

Phim sọ nghiêng - Đường mô mềm (đường E)

5. Phim sọ nghiêng – Phần Xương

Giờ bạn sẽ được yêu cầu phải tổng hợp các thông tin của trường hợp bệnh nhân này. Bạn sẽ được hỏi liệu trường hợp này là:

  1. Xương mở, trung bình hay đóng: Sử dụng hai dữ liệu đo đầu tiên (mặt phẳng hàm dưới so với mặt phẳng hàm trên và FMA) để xác định.

  2. Tăng trưởng hướng đứng, trung tính hay hướng ngang: Sử dụng số đo xương tiếp theo, trục Y để xác định.

  3. Xương hàm trên: vẩu, trung bình hay móm: Sử dụng hai số đo tiếp theo trong bảng số đo xương (Tiếp tuyến từ N tại A và SNA).

  4. Xương hàm dưới: vẩu, trung bình hay móm: Sử dụng hai số đo tiếp theo trong bảng số đo xương (Tiếp tuyến từ N tại B và SNB).

  5. Xương hạng I, II hay III: sử dụng ANB và Wits.

6. Phim sọ nghiêng – Phần Răng

  1. Răng cửa dưới: vẩu, trung bình hay móm: Sử dụng số đo từ răng cửa dưới đến rìa cắn để quyết định. Sau đó sử dụng số đó từ răng cửa dưới đến APo và răng cửa dưới đến NB để khẳng định kết quả ban đầu.

  2. Răng cửa trên: Vẩu, trung bình hay lùi: Sử dụng so đo răng cửa trên đến SN. Dùng số đo Răng 1 trên đến A đứng và răng 1 trên đến APo để xác định xem răng cửa trên là vẩu, trung bình hay móm.

7. Xoang hàm trên:

Dùng phim Panorama, nhìn sàn xoang hàm trên (đường trắng (là vỏ xương) cạnh chân răng cối trên).

  • Nếu xoang hàm không chạm chân răng 5 và răng 6 trên thì xoang nằm ở cao.

  • Nếu xoang chạm chân răng 6 trên 2-3mm thì xoang ở trung bình.

  • Nếu xoang bao lấy chân răng 5 và 6 thì xoang được xem là thấp.

Xoang hàm trên được bao bởi xương vỏ, kháng lại sự di chuyển răng, đặc biệt tạo ra cản trở khi đóng khoảng nhổ răng 5 và răng 6 trên. Xoang thấp cũng có thể thêm giá trị neo chặn vào răng cối (kháng lại sự di chuyển)

8. Sai sót từ phim do vị trí đầu:

Có hai vấn đề bạn phải hiểu với vị trí đầu khi chụp phim Cephalometric. Khi kỹ thuật viên định vị đầu bệnh nhân vào chụp định vị đầu của máy, thì chụp tai nhựa được dùng để định vị được chính xác và cố định hơn. Trong một số trường hợp, kỹ thuật viên không đặt đủ lực vào mức độ điều chỉnh, và chụp tai không được đặt hoàn toàn vào tai bệnh nhân. Đầu sẽ bị lỏng lẻo trong máy, có thể gây mất chính xác vị trí đầu.

–  “NGHIÊNG” là khi đầu của bệnh nhân nghiêng về một bên. Cấu trúc hai bên mặt sẽ bị nhìn thành 2 bóng trên phim x-quang. Porion, hàm dưới, ổ mắt, và các răng cối sẽ trở thành 2 bóng trong phân tích phim. Điểm tiêu chuẩn nhất và cũng khó nhất để xác định là Orbitale. Cấu trúc hai bóng này sẽ xác định xem cấu trúc hai bóng nào khác sẽ được chọn.

– Orbitale: Chọn ổ mắt cản quang nằm ở trên hơn. Nếu bạn nhìn vào vị trí đầu nghiêng, thì một bên ổ mắt sẽ nằm cao hơn bên kia. Đầu nghiêng về bên nào không thành vấn đề, cách dễ nhất là bạn chọn hố mắt nào nằm ở cao hơn. Vị trí hố mắt thấp hơn sẽ mờ hơn vì x-quang phải đi qua xương phía dưới của hố mắt bên kia.

Tiếp theo chúng ta sẽ chọn các điểm cùng phía với hố mắt cao hơn này. Điều quan trọng là phải kiên định chọn các điểm ở cùng 1 bên thì đo đạc mới chính xác. Bên nào thì không quan trọng, chỉ là chúng ta không muốn chọn Porion bên phải, sàn ổ mắt bên trái, hàm dưới phải và răng cối trái mà thôi.

– Porion: Nhìn vào hai lỗ ống tai ngoài, một điểm sẽ cao hơn bên kia. Cần phải kiên định cùng với lựa chọn bên ổ mắt, chọn điểm Porion cao hơn.

– Hàm dưới: sẽ có hai xương hàm dưới trên phim x-quang khi đầu bị nghiêng. Kiên định chọn giống như với ổ mắt, chọn đường hàm dưới cao hơn và cản quang nhiều hơn. Đừng chia đôi lấy phần giữa của hai đường nhưng một vài nơi dạy bạn. Có thể làm động tác như thế trong một số trường hợp có bất đối xứng xương hàm dưới, tuy nhiên rất hiếm gặp.

– Răng cối: Chọn giao điểm cao hơn ở các răng cối. Có những lỗi rõ rệt khi chọn các điểm này, nên phải cố gắng hết khả năng của mình. Nếu bạn có nghi ngờ về vị trí các răng cối này, thì chỉ số Wits sẽ đáng tin hơn.

– “NHÌN TỪ MỘT BÊN”: dạng thứ hai của vị trí đầu sai là do bệnh nhân quay đầu về một bên. Có thể họ nhìn vào đầu x-quang để xem có gì phát ra không (laser chẳng hạn). Có thể họ xem thao tác của kỹ thuật viên. Đối với chỉnh nha thì lỗi này không nghiêm trọng bằng lỗi nghiêng đầu.

– Orbitale: Bờ sau của hố mắt sẽ có hai đường, nhưng ta sẽ chọn orbitale ở thấp hơn, điểm này sẽ không thay đổi khi vị trí sai.

– Porion: Hai điểm porion sẽ cùng nằm trên một mặt phẳng, nên lỗi này cũng không ảnh hưởng đến độ chính xác của số đo.

– Xương hàm dưới: Phía sau của cành lên sẽ có hai đường, chúng ta sẽ không sử dụng chúng trong phân tích.

– Răng cối: Răng cối sẽ gây bối rối, nhưng mặt phẳng cắn sẽ không bị ảnh hưởng, Xác định tại thời điểm kết thúc điểu trị xem răng cối có đứng yên hay di gần hoặc xa sẽ rất khó khăn nếu vị trí này bị lỗi.

9. Kỹ thuật chồng phim:

9.1. Chồng đường SN tại S:

Đặt đường SN ở mỗi tấm tracing lên đỉnh của tấm kia và đặt hai điểm Sella (S) trùng nhau. Cho thấy xu hướng tăng trưởng mặt chung so với nền sọ. Bạn nên để ý sự rộng ra của mặt xuống dưới và ra trước.

9.2. Chồng phim khẩu cái:

Cho thấy hiệu quả lên răng 6 trên và 1 trên. Chú ý: Vẽ đường giải phẫu trong của xương hàm trên đôi khi giúp ích cho việc chồng phim cấu trúc hàm trên được chính xác. Bạn nên chú ý sự di chuyển xuống dưới và ra trước của răng cối trên (không có can thiệp). Răng cửa trên “di chuyển” xuống dưới và ra sau một chút với tỉ lệ 1mm mỗi năm.

9.3. Chồng phim trùng hàm dưới tại mặt trong symphysis:

Cho thấy hiệu quả lên răng 6 và răng 1 dưới. Bạn sẽ nhìn tháy răng cối dưới di chuyển xuống dưới và ra trước, và răng 1 dưới di chuyển lên trên và ra sau. Đây là sự mất chiều dài cung răng trong quá trình tăng trưởng mà không có can thiệp . Nói cách khác, răng sẽ chen chúc hơn khi bạn già đi. Điều này là thực tế đã được chứng minh.

  • Kết quả tốt nhất có được khi chụp cùng một máy từ khi bắt đầu đến khi kết thúc điều trị. Không thể chồng phim Cephalometric nếu không sử dụng định vị đầu (thường có ở máy x-quang ở các bệnh viện).

Còn tiếp: Series tự học chỉnh nha: đặt chun tách khe, gắn khâu, gắn mắc cài, buộc chun, ligature.

Nguồn: Internet

Người Share tài liệu: Nha Tài

Tổng hợp: Công ty Anh & Em

Xem thêm các bài liên quan tới chỉnh nha tại Fanpage: Chỉnh nha căn bản