RADIO 4 DENTAL SỐ 5 – THỬ NGHIỆM TUỶ RĂNG

Thử nghiệm tuỷ liên quan đến quá trình phát hiện đáp ứng của các tế bào thần kinh cảm giác của tuỷ răng.

Thử nghiệm kích thích tủy răng bằng nhiệt hoặc điện nhằm thu được đáp ứng chủ quan của bệnh nhân (chẳng hạn như nhằm xác định xem liệu thần kinh tuỷ răng có thực hiện chức năng hay không), hoặc các thử nghiệm mang tính khách quan hơn sử dụng các thiết bị kiểm tra tính toàn vẹn của mạch máu tuỷ răng. Thật không may rằng việc đánh giá định lượng tình trạng mô tuỷ chỉ có thể được xác định chính xác về mặt mô học, do không có sự tương đương giữa các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng với tình trạng mô học của tuỷ răng.

Gợi ý: Răng cửa hàm dưới 2 ống tủy 

Thử điện

Đáp ứng cơ bản của tủy răng giữa nóng và lạnh do mô tả của bệnh nhân, có cảm giác như biến mất ngay sau khi hết thích nhiệt.

Đáp ứng bất thường bao gồm:

Đáp ứng với kích thích đau kéo dài hoặc sau khi loại bỏ kích thích hoặc đau rất nhiều khi kích thích lên răng.

Thử nóng hữu ích nhất khi than phiền chính của bệnh nhân là đau răng dữ dội khi ăn thức ăn hoặc nước uống nóng thực hiện nóng cần thiết khi bệnh nhân không phân biệt được răng nào bị nhậy cảm.

Vùng răng sau được cô lập bằng dây cao su, hút đầy kim bơm chất lỏng, thông thường là nước có nhiệt độ tương tự như nhiệt thức ăn nước uống làm bệnh nhân có cảm giác đau, bơm chất lỏng vào vùng răng sau để kiểm tra xem răng có cả giác đau bình thường hay bất thường.

Bác sĩ di chuyển dần lên các răng phía trước trên mỗi phần cơ hàm, khi tìm được răng nguyên nhân.

Phản ứng của răng khi bị kích thích là cơn đau tức thì dữ dội, đáp ứng chậm có thể xảy ra thì vì vậy chờ 10s sau mỗi lần thử nghiệm để xem răng có khởi phát triệu chứng hay không.

Một phương pháp thử nóng khác là dùng guta putra nóng  hoặc hợp chất đặt lên bề mặt của răng, nếu áp dụng phương pháp này nên bôi trơn một lớp bôi trơn lên bề mặt của răng để tránh khi thử nóng sẽ cào bề mặt răng. Nếu thử nghiệm nóng đã xác nhận kế quả của những thử nghiệm khác thì lúc đó cần điều trị cho bệnh nhân.

Thông thường một răng nhạy cảm trước nhiệt độ có thể đau tự phát ở những trường hợp này bệnh nhân có thể kể rằng dùng nước lạnh để có thể giảm đau, lúc này việc đặt nhiệt lạnh lên răng có thể loại trừ đau. Điều này giúp chẩn đoán rõ hơn thường thì một răng đáp ứng với thử nhiệt và sau đó giảm đau nhiều lại khi bị đủ lạnh khi tủy bị hoại tử, là phương pháp thử tủy chính mà nhiều bác sĩ thực hiện ngày nay để có kết quả chính xác nhất.

Thử lạnh và thử điện so sánh hai kết quả thử nghiệm và xác minh chẩn đoán.

Nếu một răng đã trưởng thành không bị chấn thương mà không đáp ứng với thử nhiệt  và thử lạnh thì coi như tủy răng bị hoại tử. Tuy nhiên trong một răng có nhiều chân, có 1 chân răng có tủy sống vẫn có thể đáp ứng với thử lạnh mặc dù một hoặc các chân còn lại có thể hoại tử.

Thử lạnh có thể thực hiện tương tự như thử nhiệt bằng và cô lập răng bằng đê cao su, kỹ thuật thử lạnh thích hợp và hữu ích với bệnh nhân mang mão chứa kim loại mà không có mô răng lộ ra để tiếp cận hăọc hầu hết chân răng dã bị kim loại bao phủ.

Nếu bác sĩ dùng một thanh nước đá để thử lạnh, thì dùng đê cao su để tránh nước đá chảy vào răng kế cận gây nên kết quả dương tính cả. Một nghiên cứu so sánh về khả năng xác định sự hiện diện của mô tủy sống giữa hai phương pháo thử lạnh và thử nhiệt, độ nhạy trước khả năng xác định rằng 0,83 với thử lạnh và 0,86 với thử nóng và 0,72 với thủ điện.

Điều này xác định chính xác 83% răng có thể hoại tử, trong khi thử nóng đúng với 86% trường hợp, thử điện 72% trường hợp.

Một nghiên cứu giống vạy nhằm đánh giá 3 đặc trưng của 3 thử nghiệm này:

Nét đặc trưng liên quan đến khả năng xác định trong phòng bệnh 93% răng có thể khỏe mạnh được xác định một cách chính xác bằng cả thử lạnh lẫn thử nhiệt, trong khi đó có 41% răng có thể khỏe mạnh được xác định bằng thử nóng

Từ những kết quả ta thấy được thủ lạnh có độ chính xác là 86%, thử điện với độ chính xác là 81% và thử nóng là 71%.

Thử điện

Độ sống tủy được đánh giá bằng thử điện hoặc thử lạnh độ sống tủy được xác định qua tính toàn vẹn của việc cung cấp máu chứ không phải thông qua các sợ dây thần kinh. Mặc dù phương pháp này có nhiều nhược điểm được xác định qua tình trạng sống của tủy và quá trình cung cấp máu nhưng hiện tại kỹ thuật này cũng không đủ chính xác để được xem là thực hiện thường xuyên trên lâm sàng.

Thử điện còn có những hạn chế trong việc cung cấp thông tin về mô tủy, đáp ứng của tủy răng xong phản ánh tình trạng mô học phản ánh bệnh lý của tủy răng, một số đáp ứng của tủy răng cho thấy rằng thần kinh trong tủy răng còn phản ứng và còn đáp ứng nhu cầu được hiện trên máy có nghĩa là chỉ khác với con số đọc được trên máy được lấy ở một răng khi làm chứng trong cùng một bệnh nhân đó, khi hiện tượng xảy ra trên cả 2 răng.

Tuy nhiên hàu hết trong các trường hợp đáp ứng được ghi lại dưới dạng có hoặc không, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thử nghiệm điện hầu hết chính xác khi răng không có đáp ứng với bất kì cường độ dòng điện nào, việc không đáp ứng này thường được thấy thường xuyên nhất khi tủy răng bị hoại tử máy thử tủy sẽ không hoạt động nếu máy không được tiếp xúc hoặc kết nối với mô răng thật.

Với sự ra đời của các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn với một số mẫu máy bệnh nhân cần đặt 1 tay hoặc các ngón tay vào đầu dò của máy để tạo mạch điện.

Tuy nhiên hiện nay thay vì để bệnh nhân giữ đầu dò ta đã thay bằng kẹp ngôi, răng thử điện cần được cô lập và làm khô để kiểm tra, nhằm cho bệnh nhân biết được thế nào là cảm giác bình thường, răng nghi ngờ cần được kiểm tra ít nhất 2 lần để xác nhận lại kết quả, đầu dò gần với răng cần được phủ với nước và chất trung gian làm mềm.

Chất trung gian thường được  sử dùng nhiều nhất là kem đánh răng đặt vào 1/3 đầu dò khớp cắn mặt ngoài hoặc trong vùng răng muốn thử nghiệm kết quả trên máy thử nghiệm được ghi lại.

Phương pháp đo lưu lượng mạch doler laser

Phương pháp đo lưu lượng mạch là phương pháp đánh giá lưu lượng mạch máu trong hệ thống tim mạch, người ta vẫn đang áp dụng kĩ thuật này để đánh giá lưu lượng máu của tủy răng, một điốt được sử dụng để chiếu một chùm ánh sáng hồng ngoại qua chân răng và mô tủy, tia sáng hồng ngoại được phân tán ra khi nó xuyên qua buồng tủy.

Tia sáng thay đổi tần số khi di chuyển qua các tế bào hồng cầu, nhưng sẽ không thay đổi gì nếu di chuyển qua mẫu tĩnh.

 

Tài liệu được trích và dịch từ cuốn sách Cohen’s Pathways of the Pulp Một cuốn sách kinh điển và giá trị về kiến thức Nội Nha, được biên soạn bởi hai chuyên gia Kenneth Hargreaves và Louis Berman.

Biên dịch: Lương Thị Quỳnh Tâm

Tài trợ bởi: Công ty cổ phần đầu tư phát triển Anh & Em

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí