X-ray ( Phần 10)

111-127. NHỮNG TÌNH TRẠNG BỆNH LÝ MẮC PHẢI

MÒN RĂNG SINH LÝ

Định nghĩa

Mòn răng sinh lý là tình trạng răng bị mòn do tiếp xúc mặt nhai giữa các răng hàm trên và răng hàm dưới. Nó xảy ra ở rìa cắn, mặt nhai và mặt tiếp xúc bên. Mòn răng mặt bên dẫn đến điểm tiếp xúc trở nên rộng và phẳng. Mòn răng sinh lý xảy ra ở 90% người trưởng thành trẻ tuổi và thường trầm trọng ở nam hơn là ở nữ. Mức độ lan rộng của nó tuỳ thuộc vào chế độ ăn uống, các thành phần trong nước bọt, độ khoáng hoá của răng và lực ăn nhai. Mòn răng sinh lý là một phần trong quá trình lão hoá. Khi mô răng bị mất nhiều quá mức như trong trường hợp nghiến răng thì mòn răng sinh lý trở thành một tình trạng bệnh lý.

Đặc điểm lâm sàng

Hình ảnh mòn răng sinh lý khá đặc trưng. Vùng bị mòn đầu tiên ở trên các múi răng, gờ chéo và gờ bên. Rìa cắn của các răng cửa hàm trên và hàm dưới rộng ra. Mặt mòn ở mặt nhai các răng cối rõ rệt hơn, với múi trong của răng hàm trên và múi ngoài của răng hàm dưới mòn nhất. Khi ngà răng bị lộ, nó thường bị nhiễm màu và sự khác biệt về màu sắc giữa men răng và ngà răng sẽ làm nổi bật lên vị trí mòn. Rìa cắn các răng cửa hàm dưới có khuynh hướng lõm xuống vì ngà răng mòn nhiều hơn phần men răng xung quanh. Trong trường hợp mòn răng bệnh lý, hình ảnh mòn răng thường không tiến triển đồng đều như những mô tả ở mòn răng sinh lý. Diện mòn tiến triển nhanh hơn. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là mòn răng sinh lý là một thuật ngữ tương đối và biểu hiện lâm sàng của nó khác nhau tuỳ vào thói quen (chế độ ăn và cách căn) của nhóm dân số.

Đặc điểm X quang

Hình ảnh X quang của mòn răng sinh lý dẫn đến sự thay đổi đường viền ngoài của cấu trúc răng, làm bề mặt cong bình thường trở nên phẳng. Thân răng ngắn hơn và mất men răng ở rìa cắn hoặc mặt nhai. Thường nhiều răng gần nhau trong mỗi cung hàm sẽ bị mòn. Kích thước buồng tủy và các ống tủy giảm vì mòn răng kích thích sự hình thành ngà răng thứ cấp. Điều này có thể dẫn đến sự bít kín hoàn toàn của buồng tủy và các ống tủy. Đồng thời có sự giãn rộng của dây chằng nha chu nếu răng di chuyển. Thường có dấu hiệu hình thành xi măng răng.

Chẩn đoán phân biệt

Thường không khó nhận biết mòn răng sinh lý vì những nét đặc trưng về bệnh sử, vị trí, và mức độ mòn. Hình ảnh nhìn chung thường khá quen thuộc và dự đoán được.

Hướng xử trí

Mòn răng sinh lý thường không cần điều trị trừ khi răng có triệu chứng hoặc liên quan đến vấn đề thẩm mỹ

MÒN RĂNG CƠ HỌC

Mòn răng cơ học là không phải là răng bị mòn sinh lý mà do răng tiếp xúc với những vật ngoại lai dẫn đến mòn do ma sát, thường liên quan đến các thói quen lạ hoặc đặc điểm nghề nghiệp. Hỏi về tiền sử hoặc kiểm tra lâm sàng có thể thấy được nguyên nhân. Mặc dù nhiều nguyên nhân có thể tồn tại nhưng hai nguyên nhân thường xảy ra và có thể loại bỏ được đó là chải răng và dùng chỉ nha khoa không đúng cách. Những nguyên nhân khác bao gồm cắn điều thuốc, cắn kẹp tóc bằng răng, dùng tăm xỉa răng không đúng cách, móc hàm giả, và cắn chỉ bằng răng.

TỔN THƯƠNG DO CHẢI RĂNG

Đặc điểm lâm sàng

Mòn răng do chải răng có thể là dạng tổn thương thấy thường xuyên nhất ở mô cứng của răng. Cách di chuyển bàn chải đánh răng sai theo kiểu “tới và lui” với áp lực mạnh gây nên những khuyết hổng dạng hình chêm giữa thân răng và mô nướu. Kỹ thuật chải răng không đúng tạo nên hình ảnh mòn răng dạng chữ V hoặc rãnh vùng cổ răng thường liên quan đến men răng và bề mặt chân răng mềm hơn.

Răng bị mài mòn có thể trở nên nhạy cảm do ngà răng bị lộ. Vùng mòn thường nặng nhất ở đường nối men – xi măng ở mặt ngoài và mặt trong của răng cối nhỏ, răng nanh và các răng cửa hàm trên theo thứ tự đó. Men răng nhìn chung hạn chế việc diện mòn lan rộng. Những tổn thương phổ biến hơn và rõ ràng hơn ở phía bên trái đối với người thuận tay phải và ngược lại. Sự lắng đọng của ngà thứ cấp ở phía đối diện vùng bị mài mòn thường cùng tốc độ với sự phá huỷ bề mặt, do đó hiếm khi thấy lộ tuỷ răng.

Đặc điểm X quang

Hình ảnh X quang của mòn răng do bàn chải là hình ảnh thấu quang tại vùng cổ răng. Những khiếm khuyết này có hình bán nguyệt hoặc nửa hình tròn với bờ viền cản quang. Buồng tuỷ của những răng bị mòn nặng thường bị bít kín một phần hoặc toàn bộ. Vị trí thông thường của những tổn thương dạng này là vùng răng cối nhỏ, thường ở cung hàm trên.

TỔN THƯƠNG DO CHỈ NHA KHOA

Đặc điểm lâm sàng

Các dùng chỉ nha khoa không đúng hoặc lực quá mạnh đặc biệt là kết hợp với kem đánh răng có thể dẫn dến mòn răng. Vị trí thường bị ảnh hưởng nhất là cổ răng cửa mặt tiếp xúc bên phía trên nướu.

Đặc điểm X quang

Hình ảnh X quang của mòn răng do chỉ nha khoa có dạng thấu quang nửa hình tròn ở bề mặt bên vùng cổ răng. Rãnh thấu quang thường thấy nhất là mặt xa của răng, sâu hơn so với mặt gần vì vùng này thường bị đặt lực nhiều hơn khi vuốt chỉ lên xuống trong miệng.

Chẩn đoán phân biệt

Mòn răng do chỉ nha khoa có thể chẩn đoán bằng thăm khám lâm sàng hoặc trên X quang. Vị trí mòn cũng đã cung cấp những bằng chứng cho thấy bản chất của nguyên nhân. Có thể xác nhận lại bằng cách thăm hỏi bệnh sử của bệnh nhân. Trong trường hợp thấu quang giống với hình ảnh tổn thương sâu răng vùng cổ răng, cần kiểm tra trên lâm sàng để xác định lại chẩn đoán.

Hướng xử trí

Điều trị cơ bản đó là loại trừ nguyên nhân gây bệnh và những thói quen không tốt. Với những vùng răng bị mòn nhiều thì cần phục hồi lại.

MÒN RĂNG HOÁ HỌC

Mòn răng hoá học có nguyên nhân từ những tác nhân hoá học không liên quan đến vi khuẩn. Mặc dù trong nhiều trường hợp, nguyên nhân không rõ ràng nhưng đa phần có thể thấy rõ được là do sự tiếp xúc giữa axit và bề mặt răng. Nguồn gốc của axit có thể do nôn mửa hoặc axit trào ngược lên từ dạ dày – ruột bị rối loạn hoặc từ chế độ ăn giàu thức ăn chứa axit, trái cây có múi hoặc nước uống có ga. Axit do trào ngược tấn công mặt trong của răng và axit từ chế độ ăn căn bản làm mất khoáng mặt ngoài răng. Một số ngành nghề liên quan đến việc tiếp xúc axit cũng có thể gây mòn răng hoá học.Vị trí mòn, mô hình vùng bị mòn và hình dạng tồn thương thường cung cấp những manh mối về nguồn gốc của tác nhân gây huỷ khoáng.

Đặc điểm lâm sàng

Mòn răng hoá học thường thấy ở răng cửa, thường liên quan đến nhiều răng. Tổn thương nhìn chung trơn láng, bề mặt men lấp lánh và thường gần nướu. Mòn răng hoá học có thể dẫn đến mất nhiều men răng đến mức thấy được ánh hồng xuyên qua men.

Đặc điểm X quang

Vùng bị mòn răng cho hình ảnh thấu quang ở thân răng hơn trên phim tia X. Bờ của chúng có thể rõ hoặc rời rạc. Thăm khám lâm sàng sẽ giúp giải quyết những nghi ngờ về bản chất của tổn thương.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán mòn răng hoá học dựa trên những ghi nhận những khiếm khuyết dạng đĩa hoặc hình chữ V ở mặt ngoài và mặt trong men răng và bề mặt ngà răng. Đường viền của miếng trám có thể nằm cao hơn bề mặt mô răng. Những bờ của tổn thương bị gây ra do xói mòn thường tròn hơn so với trường hợp mòn răng cơ học.

Hướng xử trí

Cũng như mòn răng cơ học, mòn răng hoá học được xử trí bằng cách nhận biết và loại bỏ nguyên nhân. Nếu nguyên nhân là tình trạng nôn mửa mạn tính do một rối loạn tâm thì thì bệnh nhân cần súc miệng bằng flour mỗi ngày trong suốt liệu trình điều trị. Nếu nguyên nhân chưa được biết đến thì hướng xử trí tuỳ thuộc vào việc phục hồi lại khiếm khuyết. Điều này nhằm ngăn chặn răng bị tổn thương thêm, tránh lộ tuỷ và răng thẩm mỹ hơn.

TIÊU RĂNG

Tiêu răng là cấu trúc răng bị mất đi do hoặt động của các nguyên bào xương. Tiêu răng được phân làm hai loại và nội tuy và ngoại tiêu tuỳ thuộc theo bề mặt răng bị mất đi.

Ngoại tiêu ảnh hưởng đến bề mặt ngoài của răng, và nội tiêu ảnh hưởng đến bề mặt trong của buồng tuỷ và ống tuỷ. Hai loại này khác nhau về hình ảnh trên X quang cũng như hướng điều trị. Tiêu răng thảo luận ở đây khác với quá trình tiêu chân răng sinh lý bình thường ở các răng sữa. Mặc dù nguyên nhân của tổn thương tiêu răng vẫn còn chưa rõ nhưng ít nhất có một bằng chứng giả định rằng một vài tổn thương là di chứng của nhiễm trùng mạn tính (viêm), áp lực quá mạnh và chức năng, hoặc những nhân tố liên quan đến u và nang tại chỗ.

Nội tiêu

Định nghĩa

Nội tiêu xảy ra bên trong buồng tuỷ hoặc ống tuỷ và liên quan đến tình trạng tiêu ngà răng xung quanh. Điều này dẫn đến tăng khoảng không chứa tuỷ răng tại vùng cấu trúc răng mở rộng. Tình trạng này có thể thoáng qua và có giới hạn hoặc tiến triển. Nguyên nhân gây tụ tập và hoạt động của các tế bào huỷ ngà hiện chưa rõ nhưng người ta cho rằng có thể liên quan đến quá trình viêm mô tuỷ. Nội tiêu được báo cáo là do chấn thương cấp tính lên răng, che tuỷ trực tiếp hoặc gián tiếp, lấy tuỷ bán phần và núm phụ ở mặt men răng.

Đặc điểm lâm sàng

Nội tiêu có thể ảnh hưởng đến bất kỳ răng nào dù là răng sữa hay răng vĩnh viễn. Nó xảy ra thường xuyên nhất là ở răng vĩnh viễn, thường gặp ở răng cửa giữa và răng cối lớn thứ nhất và thứ hai. Quá trình tiêu răng thường bắt đầu trong suốt độ tuổi 40 và 50, thường gặp ở nam giới hơn. Khi tổn thương nằm trong buồng tuỷ thân răng, hình ảnh thấu quang có thể bao phủ thân răng. Nếu tuỷ mở rộng xuyên thủng ngà đến phần men răng, trên lâm sàng có thể thấy hình ảnh chấm hồng. Nếu tình trạng này không được chặn lại thì có thể dẫn đến nhiễm trùng tuỷ răng. Khi tổn thương nằm ở chân răng thì trong hầu hết trường hợp trên lâm sàng không phát hiện gì. Nếu nội tiêu lan rộng và làm yếu chân răng thì có thể gây nên nứt gãy chân răng. Cũng có thể tuỷ răng mở rộng đến vùng dây chằng nha chu và liên kết với túi nha chu sâu hoặc rãnh nướu và điều này cũng dẫn đến nhiễm trùng tuỷ răng.

Đặc điểm X quang

Hình ảnh X quang có thể phát hiện các tổn thương sớm chưa có triệu chứng của nội tiêu. Tổn thương dạng này khu trú, thấu quang hình tròn, bầu dục hoặc kéo dài trong chân răng hoặc thân răng và liên tục với hình ảnh buồng tuỷ hoặc ống tuỷ. Đường viền thường rõ và liên tục hoặc hơi lởm chởm nhẹ. Kết quả là buồng tuỷ hoặc ống tuỷ bị mở rộng bất thường. Đây là điểm đặc trưng của hình ảnh thấu quang đồng nhất không có bè xương hay sỏi tuỷ. Tuy nhiên, cấu trúc bên trong có thể dường như rõ nét nếu bề mặt cấu trúc răng bị tiêu bị bất thường và có bề mặt hình vỏ sò. Trong một số trường hợp hầu như toàn bộ tuỷ răng có thể mở rộng bên trong răng mặc dù tổn thương thì vẫn còn khu trú.

Chẩn đoán phân biệt

Tổn thương thường gây nhầm với nội tiêu nhất là sâu răng ở mặt ngoài hoặc mặt trong răng và ngoại tiêu chân răng.Tổn thương sâu răng có bờ khuếch tán rộng hơn tổn thương nội tiêu chân răng. Kiểm tra lâm sàng nhanh chóng phát hiện được sâu răng ở mặt ngoài và mặt trong răng. Ngoài ra, mặt gần và xa của buồng tuỷ và ống tuỷ thường không liên tục với đường viền của lỗ sâu. Tuy nhiên, với nội tiêu chân răng thì hình ảnh không thể không liên tục với buồng tuỷ hoặc ống tuỷ khi góc chụp X quang theo chiều ngang được.

Hướng xử trí

Điều trị nội tiêu phụ thuộc vào tình trạng của răng. Nếu quá trình này không dẫn đến việc làm yếu cấu trúc răng một cách nghiêm trọng thì việc điều trị nội nha sẽ chấm dứt được tình trạng nội tiêu. Nếu như tuỷ răng mở rộng và không được nâng đỡ bởi cấu trúc răng hoặc thủng chân răng xảy ra thì bề mặt thủng này cần được bộc lộ bằng phẫu thuật và trám bít lại. Nếu răng bị nội tiêu quá nặng và trở nên yếu thì nhổ răng là chỉ định duy nhất.

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí