Chỉnh nha (Phần 5): SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RĂNG

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RĂNG

Bộ răng được xác định dựa theo loại răng, số răng và sự sắp xếp của răng hoặc là đề cập đến tất cả các răng trên và dưới. Cung hàm trên và dưới là một đơn vị chức năng được tạo thành từ những thàn phần cơ bản, đó là răng. Người ta đã tìm thấy răng của động vật có vú từ cách đây 75 triệu năm. Bộ răng cả các loài linh trưởng bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh, 4 răng cối nhỏ và 3 răng cối lớn.

QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ

Hàm và răng người đã trải qua một quá trình tiến hoá theo nhiều năm để có được hình dạng như hiện tại. Răng của loài bò sát là polyphyodont (nhiều bộ răng) phát triển thành diphyodont (chỉ có 2 bộ răng) ở loài động vật có vú. Ngoài ra bộ răng phát triển từ homodont (tất cả các răng giống nhau) thành heterodont (các loại răng khác nhau) như bộ răng của người hiện nay.

Để chức năng ăn nhai được thực hiện tốt, răng và xương cần phát triển đồng bộ. Theo thời gian, lượng xương mặt và xương sọ mất đi hoặc hợp nhất lại, lượng xương giảm và cấu trúc răng cũng trải qua một quá trình thay đổi.

Máy chụp X-quang cận chóp veraveiw IX

ĐẶC ĐIỂM CỦA BỘ RĂNG NGƯỜI

PHƯƠNG THỨC BÁM DÍNH

Răng được dính vào hàm bằng những cách sau:

  • Acrodont: răng dính vào hàm bằng mô liên kết
  • Pleurodont: răng nằm bên trong hàm răng
  • Thecodont: răng nằm trong xương ổ răng

SỐ BỘ RĂNG

  • Polyphyodont: răng được thay trong suốt cuộc đời, ví dụ như ở cá mập
  • Diphyodont: hai bộ răng, ví dụ như ở người
  • Monophyodont: một bộ răng duy nhất, ví dụ như ở cừu

HÌNH DẠNG RĂNG

  • Homodont: một loại răng
  • Heterodont: răng có nhiều hình dạng khác nhau, ví dụ răng cửa, răng cối, v.v… ở người

CÔNG THỨC RĂNG Ở NGƯỜI

  • Răng sữa: I 2/2 C 1/1 M 2/2 =10
  • Răng vĩnh viễn: I 2/2 C1/1 P 2/2 M 3/3= 16

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RĂNG TỪ KHI SINH CHO ĐẾN HOÀN THÀNH BỘ RĂNG SỮA

MIỆNG TRẺ SƠ SINH TỪ 0 – 6 THÁNG TUỔI

Gum Pads

Cung ổ răng của trẻ lúc sinh được gọi là “Gum pads”. Phần này được niêm mạc nướu phủ lên, phần này sẽ được phân đoạn về sau và mỗi đoạn là một vị trí răng phát triển. Nó có màu hồng, chắc và cố định.

Pads được chia thành phần ngoài và phần trong. Các rãnh ngang chia “gum pads” thành 10 đoạn. Rãnh giữa răng nanh và răng cối lớn thứ nhất được gọi là rãnh bên, nó giúp đánh giá tương quan giữa cung hàm.

Hàm trên có hình móng ngựa với:

  • Rãnh nướu: tách “gum pad” với khẩu cái
  • Rãnh răng: bắt đầu từ nhú răng cửa, mở rộng về phía sau cho đến rãnh nướu ở vùng răng nanh và sau đó di chuyển sang bên đến cuối vùng răng cối lớn.
  • Rãnh bên

Hàm dưới có hình chữ U và hình chữ nhật với những nét đặc trưng sau:

  • Rãnh nướu: mở rộng về phía trong của “gum pad”
  • Rãnh răng: nối với rãnh nướu ở vùng răng nanh
  • Rãnh bên.

Tương quan giữa hai “gum pads”:

Tương quan giữa hai “gum pads”:
Chỉnh nha (Phần 5): SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RĂNG

  • Cắn hở phía trước tại vị trí tiếp xúc lúc nghỉ ở vùng răng cối lớn. Lưỡi đưa về phía trước vào khoảng này. Không gian giữa xương hàm trên được đóng lại khi các răng sữa mọc, vì vậy dị thường này sẽ được chỉnh sửa cùng với sự phát triển răng.
  • Cắn chìa hoàn toàn
  • Mô hình hạng II với “gum pad” hàm trên nhô ra trước hơn
  • Rãnh bên hàm dưới nằm về phía sau rãnh bên hàm trên
  • Chuyển động chức năng của hàm dưới chủ yếu theo chiều dọc và một ít theo chiều trước sau. Không có chuyển động sang bên.

Tham khảo bài viết liên quan

Sharing is caring!

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí