Chỉnh nha ( Phần 6 ): Tương quan hai hàm ở trẻ sơ sinh

Tương quan hai hàm ở trẻ sơ sinh

Do đó, tương quan hai hàm ở trẻ sơ sinh không được sử dụng như một tiêu chuẩn chẩn đoán nhằm dự đoán khớp cắn sau này của răng sữa.Tương quan giữa hai hàm hoặc cách cắn chính xác không thấy được ở trẻ sơ sinh

Răng sữa mọc sớm

Đôi khi Tương quan hai hàm ở trẻ sơ sinh một đứa trẻ sinh ra đã có răng mọc trong miệng. Răng sơ sinh xuất hiện lúc sinh trẻ trong khi răng nhũ nhi thì xuất hiện trong tháng đầu tiên. Tỉ lệ răng sơ sinh và răng nhũ nhi ước tính lần lượt khoảng 1:1000 và 1:30000. Những răng này hầu như luôn là răng cửa hàm dưới, thường biểu hiện thiểu sản men. Có khuynh hướng gia đình ở những răng này. Không nên nhổ răng nếu răng bình thường nhưng nên nhổ nếu như là răng dư hoặc bị lung lay.

Khi mới sinh, hàm trên và hàm dưới đều nhỏ so với phần còn lại của khuôn mặt. Quá trình phát triển sớm chiều ngang và chiều dọc của hai hàm xảy ra tạo ra tương quan trước sau giữa chúng. Độ cắn chìa giảm đáng kể trong vòng 6 tháng đầu. Kích thước cung hàm tăng lên để tạo đủ chỗ cho răng sữa sắp xếp hài hoà. Vì vậy những đường chen chúc ở “gum pad” biến mất khi răng mọc. Mọc răng sữa bắt đầu vào tháng thứ 6. Khớp cắn phía sau phát triển khi răng cối lớn thứ nhất đạt được tiếp xúc. Vào thời điểm răng cối lớn thứ nhất ổn định vị trí, khớp cắn phía sau được hình thành.

Thiết bị tay khoan Morita mới nhất

Giai đoạn răng sữa

Giai đoạn răng sữa bắt đầu từ khi răng sữa đầu tiên mọc lên, thường là răng cửa giữa sữa hàm dưới và chấm dứt khi răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất mọc lên, chẳng hạn từ 6 tháng tuổi cho đến 6 tuổi sau sinh. Cho đến 2 tuổi rưỡi thì răng sữa hoàn thành việc mọc trong miệng và có thể thực hiện chức năng hoàn chỉnh. Sự hình thành chân răng hoàn tất ở tuổi thứ 3.

Những dấu hiệu bình thường của bộ răng sữa

a. Khoảng cách giữa các răng cửa: giữa các răng sữa có khoảng cách để có thể chứa những răng vĩnh viễn lớn hơn sau này trên cung hàm.

Khoảng cách giữa các răng cửa

b. Khoảng linh trưởng (primate/simian/anthropoid space):

Khoảng này hiện diện ở phía gần răng nanh hàm trên và phía xa răng nanh hàm dưới. Hầu hết động vật linh trưởng có khoảng này trong suốt đời sống và dùng để đan hai răng nanh đối diện với nhau. Khoảng này được dùng để trượt sớm về phía gần.

Khoảng linh trưởng (primate/simian/anthropoid space)

c. Cắn phủ và cắn chìa thấp.

Cắn phủ và cắn chìa thấp.

d. Hầu hết các răng trước khá thẳng đứng.

e. Cung hàm hình trứng.

f. Tương quan mặt phẳng tận.

Tương quan răng cối lớn ở bộ răng sữa có thể được chia làm 3 loại sau đây:

+ Mặt phẳng tận thẳng đứng: khi mặt xa của răng cối sữa thứ hai hàm trên và hàm dưới cùng nằm trên một mặt phẳng thẳng đứng. Đây là tương quan răng cối bình thường ở bộ răng sữa vì chiều rộng gần xa của răng cối sữa hàm dưới lớn hơn chiều rộng gần xa của răng cối sữa hàm trên.

+ Bước gần: mặt xa của răng cối sữa thứ hai hàm dưới nằm về phía gần của mặt xa răng cối sữa thứ hai hàm trên.

+ Bước xa: mặt xa của răng cối sữa thứ hai hàm dưới nằm về phía xa của mặt xa răng cối sữa thứ hai hàm trên. Tức là răng cối sữa thứ hai sẽ ăn khớp với hai răng đối diện.

Từ năm thứ 5 và 6, ngay trước khi các răng cửa sữa rụng thì hàm răng có nhiều răng hơn bao giờ hết.

Tương quan mặt phẳng tận.

Tham khảo thêm tài liệu bài viết liên quan

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí