CÁC NGUYÊN TẮC MÀI CÙI RĂNG (PHẦN 3)

Độ bền vững cấu trúc

Một phục hồi phải chứa một khối lượng vật liệu đủ để chống lại lực nhai. Khối lượng này phải được giới hạn bởi khoảng trống tạo ra nhờ mài cùi. Chỉ khi đạt được điều đó thì khớp cắn trên phục hồi mới hài hoà và hình thể bề mặt dọc trục (axial contour) mới bình thường, phòng ngừa các bệnh lý nha chu xung quanh phục hồi.

Mài thấp mặt nhai

Một trong những yếu tố quan trọng nhất để mang lại đủ khối lượng kim loại và sức chống đỡ cho phục hồi đó là khoảng hở mặt nhai (Hình 9-19). Với hợp kim vàng, nên có khoảng hở 1.5 mm.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-19 Mài thấp mặt nhai không đủ thì sẽ không mang lại đủ khoảng cần thiết để làm phục hồi đúc đủ độ dày.

Chụp sứ-kim loại sẽ cần khoảng hở 2.0 mm để đạt được sự che phủ bằng sứ. Nên tạo ra khoảng hở 2.0 mm trên tất cả các cùi răng cho chụp toàn sứ. Răng lệch lạc có thể có mặt nhai không song song với mặt phẳng khớp cắn. Do đó, có thể không nhất thiết phải mài bớt mặt nhai 1.0 mm để đạt được khoảng hở 1.0 mm.

Hình dạng các mặt nghiêng cơ bản trên mặt nhai nên được bảo tồn để mang lại đủ khoảng hở mà không làm cho cùi bị ngắn quá mức (Hình 9-20). Một mặt nhai phẳng có thể làm cùi ngắn quá mức mà cùi vốn đã quá ngắn để cung cấp đủ lưu giữ. Không đủ khoảng hở làm cho phục hồi yếu hơn. Ngoài ra, mài không đủ dưới các hố rãnh giải phẫu trên mặt nhai sẽ không mang lại đủ khoảng trống để cho phép thực hiện phục hồi với hình thái chức năng tốt. Phục hồi còn dễ bị thủng hơn do quá trình mài chỉnh khi lắp hoặc do mòn khi ở trong miệng.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-20 Mài thấp mặt nhai nên tái lập các mặt nghiêng cơ bản hơn là mài thành một mặt phẳng.

Mài vát múi chịu

Một phần không thể thiếu của mài mặt nhai đó là mài vát múi chịu (Hình 9-21). Mài vát đủ trên sườn trong của múi trong răng hàm trên và sườn ngoài của múi ngoài răng hàm dưới sẽ cung cấp đủ khoảng trống cho kim loại ở khu vực tiếp xúc cắn khớp mạnh.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-21 Mài vát múi chịu là một phần không thể thiếu của mài mặt nhai.

Nếu không mài đủ vát trên múi chịu, một vài vấn đề có thể xảy ra. Nếu chụp được làm sáp và đúc theo hình thể bình thường, phục hồi đúc sẽ rất mỏng ở khu vực bên trên chỗ nối giữa mặt nhai và thành trục của cùi (Hình 9-22). Để tránh làm phục hồi đúc mỏng khi không mài vát múi chịu, kỹ thuật viên có thể cố đắp sáp tới độ dày tối ưu ở vùng này. Kết quả là tạo ra một phục hồi quá nhô, và tiếp xúc cắn khớp không đúng sẽ xảy ra trừ khi mài răng đối diện (Hình 9-23).

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-22 Mài vát múi chịu không đủ có thể tạo ra một vùng mỏng hoặc thủng trên phục hồi đúc.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-23 Mài vát múi chịu không đủ có thể dẫn đến phục hồi quá nhô và khớp cắn sai.

Nếu cố gắng mài đủ khoảng cho vật liệu để tạo một phục hồi đúc có hình thể bình thường mà không mài vát múi chịu, kết quả sẽ là mài thành trục quá mức (Hình 9-24). Bên cạnh sự phá hủy cấu trúc răng không cần thiết, độ nghiêng lớn của bề mặt cùi sẽ làm cho cùi kém lưu giữ hơn.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-24 Mặt ngoài của cùi quá nghiêng sẽ phá hủy nhiều cấu trúc răng và làm giảm lưu giữ.

Mài thành trục

Mài thành trục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp khoảng để vật liệu phục hồi có đủ độ dày (Hình 9-25). Nếu các phục hồi được thực hiện với hình thể bình thường trên cùi răng mài thành trục không đủ, chúng sẽ có các thành mỏng, dễ bị biến dạng. Kỹ thuật viên xưởng thường cố bù trừ việc này bằng cách làm cho thành trục lồi ra. Mặc dù việc này có mục đích là giải quyết vấn đề làm cho phục hình có sức chống đỡ cao hơn, nhưng nó có thể tác động bất lợi lên mô nha chu.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-25 Mài thành trục không đủ có thể làm cho các thành phục hồi mỏng và phục hồi yếu(a) hoặc phục hồi phồng, nhô ra (b).

Có một số cấu trúc khác nhằm mục đích mang lại khoảng trống cho kim loại để cải thiện độ cứng và độ bền của phục hồi: khuỷu (offset), vai mặt nhai, eo (isthmus), rãnh mặt bên, và hộp (Hình 9-26). Eo kết nối các hộp, và khuỷu liên kết các rãnh lại với nhau để làm tăng “hiệu ứng xà (truss effect).”25

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-26 (a) Chụp ba phần tư được gia cố bằng lượng vàng lấp đầy khuỷu và các rãnh. (b) Vai mặt nhai làm tăng sức chống đỡ cho cạnh lưỡi, eo và các hộp gia cố cho phần thân chính của một onlay MOD.

Kín khít rìa phục hồi

Phục hồi có thể tồn tại trong môi trường sinh học của khoang miệng chỉ khi rìa phục hồi vừa khít với đường hoàn tất xoang-bề mặt của cùi. Hình thể của đường hoàn tất sẽ quyết định hình dạng và lượng vật liệu phục hồi ở rìa phục hồi. Nó còn có thể ảnh hưởng tới cả độ vừa vặn của rìa và độ kín khít của phục hồi.

Khi mài vát . . .

Các phục hồi kim loại đúc có thể được làm cho vừa khít với cùi với độ chính xác cao, nhưng ngay cả ở các phục hồi đúc khít sát tốt vẫn có một vài sai lệch giữa rìa phục hồi và cùi. Mài vát đã được ủng hộ là phương pháp làm giảm bớt sự sai lệch rìa phục hồi.

Nếu độ sai lệch đứng được ký hiệu là D, khoảng cách giữa phục hồi và cùi (A trong Hình 9-27) là không thay đổi giữa rìa phục hồi và đường hoàn tất (B trong Hình 9-27). Tuy nhiên, khoảng cách ngắn nhất giữa rìa phục hồi và bề mặt cùi là một đoạn thẳng, d, vuông góc với bề mặt răng (C trong Hình 9-27). Nó có thể được biểu diễn bằng một hàm số của D và sin của góc μ hay cos của góc ϕ:

d = D sin μ

hoặc

d = D cos ϕ

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Hình 9-27 Phục hồi không khít (D trong hình A) thể hiện bằng khoảng hở rìa phục hồi với kích thước tương tự trên bờ vai vuông góc với hướng tháo lắp (hình B). Khi góc của rìa phục hồi (μ) gần bằng 0 độ (hình C), khoảng các giữa rìa phục hồi và răng (d) tiệm cận 0, dựa trên giả thuyết khe hở có thể được đóng kín hoàn toàn. (Theo Rosner26 và cộng sự.)

Khi góc μ càng nhỏ (càng nhọn), sin μ càng nhỏ (Bảng 9-2); khi góc ϕ càng lớn (càng tù), cos ϕ càng nhỏ. Bằng phép tính nào thì d cũng giảm một lượng như nhau. Góc rìa phục hồi (μ) càng nhọn hoặc góc đường hoàn tất(ϕ) càng tù, thì khoảng cách giữa rìa phục hồi và răng càng nhỏ. Lý lẽ này dựa trên giả thuyết rằng khoảng cách giữa rìa phục hồi và cấu trúc răng là không thể kín khít tuyệt đối được, và chừng nào không có cement giữa phục hồi và cùi, điều này là đúng.

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Bảng 9-2 Hàm lượng giác của các góc từ 0 đến 90 độ

Nguồn: Tổng hợp Internet

Sharing is caring!

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí