Nguồn gốc của đau răng không do răng

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Bài này sẽ cung cấp những thông tin cho việc điều trị lâm sàng nha khoa nhằm mục đích xác định đau răng không có nguồn gốc do răng. Bác sĩ cần có những kiến thức thấu đáo về tất cả các nguyên nhân có thể gây ra cơn đau vùng đầu mặt, bao gồm các tình trạng do răng và lẫn không do răng. Kiến thức này sẽ tránh việc chẩn đoán sai và cho phép lựa chọn điều trị đúng, kính chuyển nếu cần thiết. Để biết những thông tin về điều trị những bệnh lý này, đôi khi cần tham khảo ý kiến của những chuyên gia khác nữa.

Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về phân loại chính xác với những tiêu chuẩn chẩn đoán và mối liên hệ tương quan giữa những rối loạn đau vùng đầu mặt khác nhau. Các ngành chăm sóc sức khoẻ khác nhau liên quan đến việc chẩn đoán và điều trị đau cũng dùng những thuật ngữ khác nhau trong y văn. Điều này lẽ dĩ nhiên dẫn đến những hiểu lầm, đặc biệt là khi đề cập đến những cơn đau do bệnh lý thần kinh. Thuật ngữ dùng trong y văn khá đa dạng, ý nghĩa trùng lặp nhau với mức độ không rõ ràng.

Đôi khi y văn lại dùng những thuật ngữ giống nhau để mô tả cho những rối loạn dường như khác nhau; chẳng hạn, đau dây thần kinh sinh ba là một cơn đau không phải tự phát, đặc trưng bởi cường độ, đau từng cơn liên quan đến một hoặc nhiều nhánh của dây thần kinh sinh ba, hoặc như là một cơn đau liên tục thường có cường độ từ nhẹ đến trung bình phát sinh do tổn thương một nhánh cụ thể nào đó của dây thần kinh sinh ba. Người ta đã cố gắng nhằm xây dựng các mẫu chẩn đoán cơn đau thần kinh. Phân loại sử dụng các mẫu này để làm tăng mức độ rõ ràng trong giao tiếp và thống nhất ý kiến, mặc dù ứng dụng những tiêu chuẩn về đau trong vùng đầu mặt thường không phân loại được.

Nhìn chung, người ta có thể phân loại những nguyên nhân đau răng không do răng thành năm nhóm lớn:

  1. Đau cơ xương và các chứng đau không tiến triển khác phát sinh từ cấu trúc soma.
  2. Đau thần kinh mạch máu hay còn gọi là đau đầu.
  3. Đau thần kinh.
  4. Đau có nguồn gốc do tâm ký thuần tuý hay còn gọi là đau răng tâm lý.
  5. Đau liên quan đến một quá trình bệnh lý nào đó.

Đau cơ xương khớp và thân thể

Đau cân cơ

Mặc dù bất kỳ những mô sâu nào ở đầu và cổ có tác động gây ra tác động kích thích về trung tâm đều có thể dẫn đến đau xuất chiếu đến răng, nhưng trong đó những cơn đau có nguồn gốc do cơ là phổ biến nhất. Đau cân cơ (MFP) bắt nguồn từ những vùng cơ trọng điểm của mô cơ. Về mặt lâm sàng, những vùng này cảm giác như những dải bị kéo căng hoặc thắt nút lại và được gọi là điểm gởi phát. Nhìn chung, cơn đau được mô tả là lan toả, liên tục, âm ỉ, cảm giác đau; điều này có thể dẫn đến việc nhà lâm sàng chẩn đoán nhầm với cơn đau tuỷ răng. Một khả năng khác gây nhầm lẫn đặc trưng của cơn đau cơ đó là bệnh nhân có thể mô tả đau khi nhai. Đặc điểm này tương tự với đau vùng quanh chóp, không có nguồn gốc do tuỷ răng. Tiếp nữa, cần làm rõ một điều rằng cơn đau này xuất phát từ sự co cơ chứ không phải là do áp lực lên vùng dây chằng quanh chóp. Ấn vào vùng cơ nhai gây đau trong khi gõ vào răng thì không.

Cường độ cơn đau sẽ tăng và có thể cảm nhận được ở một khoảng cách xa. Đau cân cơ được cảm nhận xuất phát từ răng là một dạng đau xuất chiếu lạc chỗ. Đó là cơn đau được cảm nhận ở một vùng khác với vùng có dây thần kinh chi phối khởi phát cơn đau. Thông thường đau cơ xuất chiếu lên răng là từ cơ cắn, cơ thái dương và cơ chân bướm ngoài; các cơ vùng cổ và những cấu trúc sâu không phải cơ ở vùng mặt cũng có thể là nguồn gốc của kiểu đau này.

Mặc dù bệnh nguyên của đau cân cơ (MFP) vẫn chưa rõ nhưng nhiều tác giả đưa ra giả thuyết rằng do cơ có thể bị tổn thương hoặc co liên tục như khi siết chặt. Trên lâm sàng, sự co cơ có thể xảy ra như một thói quen cận chức năng hoặc một đáp ứng tự vệ của cơ tại chỗ cho đến nhận cảm đầu vào độc hại liên tục ở sâu như đau răng. Khi cân nhắc lý thuyết này và những gì chứng kiến được trên lâm sàng cho thấy điểm kích hoạt gây ra đau hoặc làm trầm trọng thêm đau răng. Điểm kích hoạt cũng có thể vẫn còn duy trì sau khi đau răng đã được giải quyết xong. Điều này có thể làm nhà lâm sàng nhầm lẫn và làm bệnh nhân thấy bất an. Điều quan trọng là nhận ra được mối liên hệ giữa hai thực thể này. MFP có thể giả dạng đau răng và đau răng có thể dẫn đến sự phát triển của MFP.

Đau răng có nguồn gốc từ cân cơ có thể phát sinh mà có hoặc không có bằng chứng của bệnh lý tuỷ và mô quanh chóp. Chẩn đoán xác định đựa trên những triệu chứng bị thiếu sau khi thử nghiệm tuỷ và/hoặc ấn/gõ xem mức độ nhạy cảm, và/hoặc gây tê tại chỗ nhưng không giải quyết được triệu chứng. Ngược lại, khám chức năng hàm và ấn vào cơ lại gây ra đau răng có nguồn gốc do cân cơ. Thông thường, gây tê tại chỗ vào điểm kích hoạt đau sẽ giải quyết được triệu chứng.

Một số phương pháp điều trị thông thường chứng đau cân cơ là massage sâu, kỹ thuật thư giãn, “phun và giãn cơ”, sử dụng thuốc giãn cơ, và tiêm vào điểm khởi phát đau. Massage sâu và kỹ thuật thư giãn có nhiều ưu điểm do không xâm lấn và dễ áp dụng. Phun và giãn cơ liên quan đến sử dụng chất làm mát phun hơi vào da phủ trên điểm khởi phát, sau đó cơ giãn nhẹ. Tiêm vào điểm khởi phát được sử dụng khi chẩn đoán lẫn khi điều trị đau cân cơ. Nói cách khác, nếu lời than phiền về đau giảm khi tiêm vào điểm khởi phát thì có thể xác nhận nguồn gốc cơn đau. Hiệu quả điều trị của thủ thuật tiêm vào điểm khởi phát cũng khác nhau. Một số bệnh nhân có thể thấy giảm đau kéo dài sau một hoặc vài mũi tiêm, trong khi một số khác thì không.

Đau xoang và/hoặc niêm mạc mũi

Đau niêm mạc xoang hoặc mũi là một dạng đau khác có thể giả dạng đau răng. Đau xoang có thể biểu hiện những triệu chứng như nặng hoặc tăng áp lực bên dưới mắt, nhưng thường không gây ra đau nhiều trừ khi niêm mạc mũi bị ảnh hưởng. Đau từ niêm mạc mũi có khuynh hướng âm ỉ và cũng có thể đau như thiêu đốt giống với đặc trưng của cơn đau niêm mạc nội tạng. Nhìn chung, cơn đau này là do nguyên nhân virus hoặc di ứng nguyên. Những triệu chứng khác cũng phù hợp với loại bệnh lý này (như nghẹt mũi hoặc sổ mũi) cũng cần được khai thác trong bệnh sử.

Đặc trưng như mô nội tạng sâu, đau xoang/niêm mạc mũi có thể gây ra những tác động kích thích như tăng cảm giác đau thứ phát, đau xuất chiếu và những thay đổi tự động. Khuynh hướng này khiến đau xoang/niêm mạc mũi có khả năng giả dạng đau răng. Tăng cảm giác đau thứ phát được thấy trên lâm sàng như là việc lan rộng đồng tâm của cơn đau ra khỏi vùng mô bị tổn thương, dẫn đến sự nhạy cảm của mô vùng xoang hàm trên cũng như nhạy cảm khi gõ vào một vài răng hàm trên. Răng nhạy cảm khi gõ và ấn cũng là dấu hiệu của viêm quanh chóp.

Di chứng tự động có thể biểu hiện như phù và/hoặc ban đỏ trong vùng, điều này có thể gây nghi ngờ áp xe do răng. Tuy nhiên, khi một bệnh nguyên của bệnh lý tuỷ và mô quanh chóp bị thiếu thì cần nghi ngờ đến bệnh lý xoang/niêm mạc mũi. Những triệu chứng khác của bệnh lý về xoang bao gồm nhạy cảm khi ấn vào các cấu trúc phủ trên xoang (chẳng hạn như nhạy cảm vùng bên mũi) và đau nhói hoặc cảm giác đau tăng khi đầu nằm thấp hơn vị trí tim. Gây tê răng tại chỗ sẽ không làm giảm cơn đau xoang/niêm mạc mũi nhưng gây tê khu trú vùng mũi thì lại làm được điều này.

Bệnh nhân bị nghi ngờ mắc bệnh về xoang hoặc niêm mạc mũi cần được chuyển đến bác sĩ tai mũi họng để được chẩn đoán và điều trị. Khám sức khoẻ cũng như những thử nghiệm bổ trợ có thể hữu ích trong việc chẩn đoán xác định. Các thử nghiệm bao gồm như xét nghiệm tế bào mũi, siêu âm, nội soi mũi, các thử nghiệm hình ảnh như X quang và chụp cắt lớp vi tính. Điều trị đau xoang hoặc niêm mạc mũi còn tuỳ thuộc vào nguyên nhân (chẳng hạn như do vi khuẩn, vi rus, dị ứng hay do tắc nghẽn).

Đau tuyến nước bọt

Đau xuất chiếu từ một hoặc nhiều tuyến nước bọt có thể được người bệnh cảm như như đau răng; các tác giả chưa gặp tình huống này trong thực hành lâm sàng nhưng đã có những báo cáo trình bày về đau tuyến nước bọt là một dạng đau răng không có nguồn gốc do răng.Vì phân bố thần kinh nhận cảm soma nguyên phát trong tuyến nước bọt xuất phát từ nhánh thần kinh hàm dưới nên đau tuyến nước bọt sẽ thường xuất chiếu lên các răng hàm dưới nhất.

Biên dịch: BS Lương Thị Quỳnh Tâm

Nguồn: Kenneth M. Hargreaves, Stephen Cohen. “Cohen’s Pathways of the pulp”

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí