Phân tích phim Cephalometric ( Phần 2)

KỸ THUẬT TRACING

Thực hiện tracing cần theo một hệ thống. Đầu tiên nên bắt đầu bằng việc kiểm tra phim cephalogram nói chung và sau đó xác định vị và xác định các điểm mốc chuẩn. Tiếp theo là tìm các cấu trúc giải phẫu theo một trình tự hợp lý, và cuối cùng là xây dựng các điểm mốc và các đường thẳng.

Xem thêm: Phân tích phim Cephalometric – Phần 1

CÁC BƯỚC THỰC HIỆN KỸ THUẬT TRACING

Bước 1: Vẽ ít nhất hai dấu cộng chữ thập ở góc bên phải và trái của phim. Chúng không trùng với bất kỳ điểm mốc giải phẫu nào, và được dùng để định hướng khi tracing trên phim.

Bước 2: Tìm đường chỉ nét mặt nhìn nghiêng mô mềm, bờ ngoài sọ và đốt sống cổ

Bước 3: Tìm nền sọ, bờ trong xương sọ, xoang trán và thanh thai. (Moorrees kiến nghị rằng nên bỏ vị trí porion và thay bằng bờ trên của chỏm lồi cầu để xác định mặt phẳng FH)

Bước 4: Tiếp theo tìm xương hàm trên và các cấu trúc liên quan bao gồm các gờ chính (tiêu biểu là mỏm xương gò má) và rãnh chân bướm – hàm trên. Sàn mũi cũng được vẽ dọc theo gai mũi trước và gai mũi sau. Răng cối lớn thứ nhất hàm trên và răng cửa hàm trên nằm trước nhất (gồm cả chân răng của nó) cũng được vẽ ra.

Bước 5: Cuối cùng là xương hàm dưới, bao gồm vị trí ráp nối giữa, bờ dưới xương, lồi cầu và mõm vẹt. Răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và răng cửa nằm phía trước nhất bao gồm cả chân răng cũng được vẽ ra. Ống thần kinh răng dưới cũng có thể được vẽ và đôi khi có thể dùng nó để làm vị trí chồng phim cho các phim kế tiếp.

Cephalometric, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

NHỮNG CẤU TRÚC GIẢI PHẪU TRÊN CEPHALOGRAM

Những cấu trúc xương chính thấy được khi tracing như sau:

  1. Xương bướm, hình 9.5 A và B cho thấy đường viền bên ngoài của những cấu trúc của xương bướm lần lượt trên phim cephalogram mặt bên và chiều trước sau.
  2. Xương gò má, hình 9.6 A và B mô tả cấu trúc xương gò má lần lượt trên phim cephalogram mặt bên và chiều trước sau.
  3. Xương hàm trên, hình 9.7 A và B cho thấy cấu trúc xương hàm trên lần lượt ở phim cephalogram mặt bên và chiều trước sau.
  4. Xương hàm dưới, hình 9.8 A và B minh hoạ hình ảnh cấu trúc xương hàm dưới thấy được lần lượt trên phim cephalogram mặt bên và chiều trước sau

ĐIỂM VÀ MỐC – ĐỊNH NGHĨA VÀ YÊU CẦU

Mốc là một điểm hỗ trợ cho việc đo lường. Một mốc lý tưởng được xác định chắc chắn ở trên sọ và vận hành ổn định trong suốt quá trình tăng trưởng. Không nên cho rằng tất cả các điểm mốc đều đáng tin cậy và vững ổn.

Độ tin cậy (khả năng tái xác định, khả năng tin cậy) của một mốc bị ảnh hưởng bởi:

  • Chất lượng cephalogram
  • Kinh nghiệm của người vẽ phim
  • Nhẫm lẫn do bóng của những cấu trúc giải phẫu khác

Hiệu quả (tính chính xác hoặc có thể sử dụng làm bằng chứng) của mốc được xác định chủ yếu bằng cách mốc đó được sử dụng.

Các điểm mốc và điểm trên cephalometric cần có những thuộc tính sau (theo Hội thảo nghiên cứu về Cephalometric được tổ chức bởi Hiệp hội Chỉnh nha Mỹ ở Washington DC vào năm 1960):

  1. Các mốc cần thấy được dễ dàng trên phim, chúng nên có đường viền ngoài đều.
  2. Đường thẳng và mặt phẳng nên có mối liên hệ quan trọng đến vector tăng trưởng của một vùng sọ cụ thể nào đó.
  3. Mốc cần cho phép việc định lượng và đo đạt của các đường và góc chiếu từ chúng.
  4. Các số đo nên phù hợp với phân tích thống kê.

Nghe trên Radio 4 Dental – Dành cho nha sĩ

PHÂN LOẠI ĐIỂM VÀ MỐC

Điểm và mốc trên phim Cephalometric bao gồm những loại sau:

  1. Mốc giải phẫu hay điểm giải phẫu thật sự
  2. Implant
  3. Mốc được tạo ra. Kiểu này gồm ba loại:

– Điểm nằm ở đường viền ngoài

– Điểm giao nhanh của các bờ (cạnh)

– Điểm giao nhau của các bờ (cạnh) nối dài

ĐIỂM GIẢI PHẪU THẬT SỰ

“Điểm” giải phẫu là một vùng thật sự nhỏ. Nó có thể nằm trên hộp sọ cứng thậm chí còn thấy rõ hơn trên phim Cephalogram. Mỗi điểm có phạm vi riêng của nó.  Điểm có tính bất định theo một hoặc hai chiều. Chẳng hạn như gai mũi trước (ANS), Infradentale (ID), đỉnh múi hoặc rìa cắn (Is), và Nasion (Na).

  1. Implant là một vật đánh dấu nhân tạo có tính cản quang được chèn vào. Implant thường làm bằng kim loại trơ. Chúng là “những điểm cá nhân” và vị trí của chúng có thể khác nhau tuỳ từng cá thể làm cho nghiên cứu cắt ngang rất khó. Chúng có thể nằm chính xác hơn những điểm truyền thống. Nó cung cấp một vị trí đặc biệt chính xác, lý tưởng trong nghiên cứu theo chiều dọc trên cùng một cá thể.

ĐIỂM ĐƯỢC TẠO RA

Những điểm được tạo ra giống như tên gọi của chúng. Được tạo ra nhằm mục đích so sánh hoặc đo lường trong phim cephalometric. Chúng gồm có ba loại sau:

Điểm nằm ở đường viền ngoài

Đó là những điểm đặc trưng bởi thuộc tính liên quan đến một đường viền ngoài liên lục:

  1. Những điểm ở vị trí cực kỳ cong chẳng hạn như điểm Incision Superius (Is)
  2. Những điểm có toạ độ lớn nhất hoặc nhỏ nhất trong tất cả các điểm ở đường viền ngoài. Chẳng hạn như điểm A, điểm B, điển Gnathion (Gn) hoặc Condylion (Co). Những điểm này có độ chính xác ít hơn so với những điểm giải phẫu thật sự.
  3. Những điểm đi theo cặp. Chẳng hạn như hai điểm gonion. Gonion được dùng để đo chiều rộng xương hàm dưới khi chụp theo chiều trước sau.

Điểm là giao của các cạnh “Điểm” được xác định như là giao của các hình ảnh đường thẳng. Chẳng hạn như điểm Articulare (Ar) và Pterygomaxillary fissure (Ptm). Chúng vốn dĩ không phải là điểm và cũng không phải là một phần của xương sọ cứng. Những “điểm” loại này chỉ tồn tại chỉ trên phim X quang. Điểm loại này phụ thuộc vào vị trí của vật thể được chụp.

Điểm là giao của các cạnh kéo dài

Giao điểm của các cạnh kéo dài cũng được xem như “điểm”. Ví dụ “Gonion” thường được xác định bằng giao điểm các ở cành đứng và cành ngang.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

RELAX. ENJOY.

Nộp CV của bạn

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí