Xử lý khẩn cấp nội nha (Phần 3)

, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

KHÁNG SINH

Chỉ định kháng sinh cần được bổ sung sao cho phù hợp với chỉ định điều trị lâm sàng. Do những yếu tốt nguy cơ như dị ứng, tương tác thuốc và những biến chứng về mặt hệ thống, kháng sinh nên được chỉ định một cách hợp lý. Chúng được chỉ định khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng liên quan mang tính hệ thống như sốt cao, khó chịu, viêm mô tế bào, cứng khít hàm không lý do, và nhiễm trùng dai dẳng, tiến triển, và dành cho những bệnh nhân bị tổn thương hệ thống miễn dịch. Mục đích là nhằm loại trừ nhiễm trùng từ vùng mô trong cơ thể. Việc sử dụng kháng sinh một mình mà lại không xác định được nguồn gốc nội nha của nhiễm trùng không phải là một điều trị thích hợp.

GIẢM ĐAU

Vì cơn đau do bệnh lý tuỷ và mô quanh chóp liên quan đến quá trình viêm, lựa chọn loại thuốc giảm đau đầu tiên là nhóm kháng viêm không Steroid (NSAIDs). Tuy nhiên, không có thuốc giảm đau nào có thể thay thế hiệu quả của việc làm sạch hoàn toàn ống tuỷ để loại bỏ nguồn gốc của nhiễm trùng.

Aspirin được dùng như là thuốc giảm đau hơn 100 năm nay. Trong một vài trường hợp, nó có thể có hiệu quả hơn 60 mg codein; công dụng giảm đau và hạ sốt của nó ngang bằng với những thuốc loại acetaminophen, và tác dụng kháng viêm của nó thì mạnh hơn. Tuy nhiên, phản ứng phụ của aspirin bao gồm đau thượng bị, buồn nôn, loét dạ dày-ruột. Hơn nữa, hiệu quả giảm đau của nó kém hơn so với ibuprofen 400 mg. Khi chống chỉ định dùng NSAIDs và aspirin, chẳng hạn ở những bệnh nhân bị vấn đề về dạ dày – ruột thì acetaminophen là thuốc không cần kê toa được ưu tiên chỉ định. Liều tối đa là không vượt quá 4g trong vòng 24 giờ.

Để giảm những cơn đau từ vừa đến nặng, người ta nhận ibuprofen và NSAID có tác dụng hơn aspirin (650mg) và acetaminophen (600mg) có hoặc không có codeine (60mg). Hơn nữa, ibuprofen có ít tác dụng phụ hơn so với những loại kết hợp opioid. Liều tối đa là 3.2 g trong vòng 24 giờ. Bệnh nhân uống aspirin hằng ngày để điều trị bệnh tim mạch có thể thỉnh thoảng uống liều ibuprofen; tuy nhiên, cần thận trọng khuyên những bệnh nhân này tránh dùng liều ibuprofen thường xuyên. Những bệnh nhân này có thể giảm đau nhanh hơn bằng cách dùng có chọn lọc thuốc ức chế cyclooxygenase (COX)-2, chẳng hạn như diclofenac hoặc celecoxib.

Vì có tác dụng kháng viêm, NSAIDs có thể ngăn chặn tình trạng sưng sau phẫu thuật. Vừa là một thuốc giảm đau tốt kết hợp với tác dụng kháng viêm giúp cho NSAIDs, đặc biệt là ibuprofen, trở thành lựa chọn thuốc dùng cho cơn đau cấp tính trong nha khoa mà không có bất kỳ chống chỉ định nào. Ibuprofen được dùng trong vòng 30 năm nay và được đánh giá rất cao. Nếu chỉ sử dụng một mình NSAIDs mà không mang lại hiệu quả giảm đau tốt thì có thể kết hợp với opioid. Tuy nhiên, cũng lưu ý những tác dụng phụ của opioid là buồn nôn, táo bón, hôn mê, chóng mặt và lơ mơ.

NỨT VÀ GÃY RĂNG

Như đã mô tả chi tiết ở chương 1, nứt và gãy răng có thể khó xác định và chẩn đoán, nhưng việc phát hiện ra tình trạng này là một nhân tố quan trọng giúp xử trí những tình huống cấp cứu cấp tính về răng. Trong giai đoạn sớm, nứt răng nhỏ và khó nhận biết được. Tháo miếng trám và dùng dung dịch nhuộm màu, gõ vào từng múi răng, dùng ánh sáng chiếu vào răng, và dùng kính hiển vi phóng đại đều rất hữu ích trong việc tìm vết nứt. Khi nứt và gãy răng lan rộng hơn sẽ dễ dàng quan sát thấy. Vì khó nhận biết vết nứt và triệu chứng của chúng cũng khác nhau nên người ta gọi tình trạng này là hội chứng nứt răng mặc dù nó cũng không hẳn là một hội chứng. Răng sống tuỷ bị nứt thường đau đột ngột và dữ dội, đặc biệt là lúc ăn nhai. Răng chết tuỷ hoặc đã được trám bít ống tuỷ thường đau âm ỉ, có thể nhạy cảm khi ăn nhai.

Xác định sự hiện diện của nứt răng là một việc làm quan trọng vì tiên lượng của răng phụ thuộc trực tiếp vào mức độ lan rộng của đường nứt hoặc gãy. Xử trí nứt răng sống có thể chỉ đơn giản bằng cách trám lại hoặc làm mão răng toàn phần. Tuy nhiên, khi nổ lực hết mình nhằm xử trí những răng bị nứt cũng mà vẫn không thành công, thì lúc này thường cần điều trị nội nha hoặc nhổ răng. Những đường nứt ở răng chết tuỷ hoặc đã được trám bít ống tuỷ có thể còn khó khăn hơn. Thêm vào đó cần phải xác định xem liệu tình trạng chết tuỷ có thể có nguyên nhân do nứt răng không. Nếu vậy thì tiên lượng của răng thường kém, lúc này người ta khuyên nên nhổ răng.

SƯNG HOẶC ĐAU KHI ĐIỀU TRỊ

Sưng hoặc đau lúc bắt đầu điều trị hoặc trong quá trình điều trị nội nha không phẫu thuật là do sự trầm trọng hơn của tổn thương vùng mô quanh chóp. Tần suất có thể từ 2% đến 20% các trường hợp. Một phân tích hồi cứu trong y văn, với những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, cho thấy tỉ lệ sưng hoặc đau khi điều trị vào khoảng 8.4%, thường phổ biến ở nữ dưới 20 tuổi, có thể thưởng xảy ra ở các răng cửa bên hàm trên, răng cối lớn thứ nhất hàm dưới nếu có tổn thương quanh chóp lớn; và ở những trường hợp điều trị lại những ống tuỷ đã được điều trị trước đây. Cơn đau trước điều trị cũng có thể dự báo nguy cơ sưng và đau sau điều trị. Tuy nhiên, điều may mắn là những răng bị sưng hoặc đau khi điều trị dường như không làm giảm tỉ lệ thành công của cuộc điều trị.

Sưng đau trong quá trình điều trị có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm việc đưa dụng cụ quá điểm thắt chóp, sửa soạn ống tuỷ quá lố, đẩy mùn ngà và chất bẩn vào vùng chóp, không lấy hết tuỷ, trám bít ống tuỷ quá chóp, chất hoá học kích thích (chẳng hạn như dung dịch bơm rửa, thuốc đặt trong ống tuỷ, chất trám bít ống tuỷ), khớp cắn cao, nứt chân răng, và những nhân tố vi sinh học khác. Mặt dù có nhiều trường hợp có thể được xử trí bằng thuốc, các trường hợp đau dai dẳng có thể cần phải mở răng ra lại để dẫn lưu hoặc khoan dẫn lưu, hoặc ít nhất là phải điều chỉnh khớp cắn. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng nhằm giảm tỉ lệ sưng và đau trong quá trình điều trị vẫn còn một số vấn đề tranh cãi. Trong khi đó, những nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc sử dụng kháng sinh trước điều trị ở những răng có tuỷ hoại tử giảm tần suất sưng và đau khi điều trị, một nghiên cứu gần đây hơn cho thấy dùng kháng sinh ít hiệu quả hơn so với thuốc giảm đau trong việc giảm những trường hợp xử lý khẩn cấp giữa các cuộc hẹn, và một số nghiên cứu khác nữa cũng kết luận rằng dùng kháng sinh dự phòng không có hiệu quả gì đối với những triệu chứng sau điều trị.

Biên dịch: BS Lương Thị Quỳnh Tâm

Nguồn: Kenneth M. Hargreaves, Stephen Cohen. “Cohen’s Pathways of the pulp”

#206

Sharing is caring!

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí