list Nội dung bài viết

    Những điều mà nhiều bác sĩ nha khoa không để ý đó là thông số về răng hãy cùng tìm hiểu qua các trường hợp dưới đây nào.

    Độ nghiêng mặt phẳng nhai

    Down ban đầu định nghĩa độ nghiêng mặt phẳng nhai là đường thẳng cắt ngang vị trí lồng múi của các răng cối lớn thứ nhất và cắn phủ các răng cửa.

    Những trường hợp các răng cửa sai lệch nhiều, Down kiến nghị vẽ mặt phẳng nhai qua vùng lồng múi của các răng cối nhỏ thứ nhất và răng cối lớn thứ nhất.

    Số đo độ nghiêng mặt phẳng nhai cho biết độ dốc của mặt phẳng nhai so với mặt phẳng ngang Frankfort. Khi phần trước mặt phẳng thấp hơn phần sau, góc này có giá trị dương. Giá trị dương lớn gặp trong dạng mặt hạng II. Cành đứng xương hàm dưới dài cũng có khuynh hướng làm giảm góc này.

    Giá trị trung bình của góc này là +9.3 độ, nằm trong khoảng +1.5 độ đến +9.3 độ.

    Độ nghiêng mặt phẳng nhai
    Giá trị trung bình của góc này là +9.3 độ, nằm trong khoảng +1.5 độ đến +9.3 độ.

    Máy quét phim nha khoa cruxell 1000

    Góc liên răng cửa

    Góc liên răng cửa được tạo thành bằng cách nối một đường thẳng từ rìa cắn đến chóp chân răng cửa giữa ở hàm trên và hàm dưới. Góc liên răng cửa tương đối nhỏ ở những cá nhân có răng cửa nghiêng ra trước so với nền hàm, tức là răng bị nhô.

    Giá trị trung bình là 135.4 độ, nằm trong khoảng 130 độ đến 150 độ.

    Góc liên răng cửa
    Giá trị trung bình là 135.4 độ, nằm trong khoảng 130 độ đến 150 độ.

    Góc răng cửa – mặt phẳng nhai

    Góc này liên quan đến các răng cửa giữa hàm dưới và bề mặt chức năng của chúng tại mặt phẳng nhai. Góc phía trong bên dưới được đọc với độ lệch cộng hoặc trừ so với góc bên phải. Góc dương tăng khi răng nghiêng trước, tức là bị nhô. Giá trị tối thiểu gặp trong những trường hợp hạng II chi 2 với các răng cửa lùi.

    Giá trị trung bình thông số về răng 14.5 độ với độ lệch chuẩn là ±3.5°, nằm trong khoảng +3.5° đến +20°.

    Góc răng cửa – mặt phẳng nhai
    iá trị trung bình thông số về răng 14.5 độ với độ lệch chuẩn là ±3.5°, nằm trong khoảng +3.5° đến +20°.

    Góc răng cửa – mặt phẳng hàm dưới

    Góc này được tạo thành bởi giao giữa mặt phẳng hàm dưới và đường nối rìa cắn đến chóp chân răng cửa giữa hàm dưới. Góc này dương khi các răng cửa nghiêng về phía trước so với nền hàm, tức chúng bị nhô ra trước. Giá trị lớn khi độ nhô răng tăng.

    Giá trị trung bình thông số về răng 1.4 độ, nằm trong khoảng – 8.5 độ đến +5 độ.

    Góc răng cửa – mặt phẳng hàm dưới
    Giá trị trung bình thông số về răng 1.4 độ, nằm trong khoảng – 8.5 độ đến +5 độ.

    Nhô răng cửa hàm trên

    Nó đo đạt khoảng cách giữa rìa cắn răng cửa giữa hàm trên với đường nối giữa điểm A và Pog. Khoảng cách này dương nếu rìa cắn nằm về phía trước đường A – Pog, và âm nếu rìa cắn nằm về phía sau đường này. Nó cho thấy mức độ nhô ra trước của răng cửa hàm trên.

    Giá trị trung bình là +2.7mm, nằm trong khoảng -1.0 mm đến +5 mm.

    Nhô răng cửa hàm trên
    Giá trị trung bình là +2.7mm, nằm trong khoảng -1.0 mm đến +5 mm.

    122. NHỮNG ĐƯỜNG THẲNG VÀ MẶT PHẲNG THƯỜNG DÙNG TRÊN PHIM CEPHALOMETRIC MẶT BÊN

    Mặt phẳng ngang Frankfort (đường màu vàng)

    Được sử dụng đầu tiên bởi Down, nó được vẽ từ điểm Orbitale đến điểm cao nhất của ống tai ngoài (Porion).

    Đường S-N (đường màu đỏ)

    Đường S-N đại diện cho nền sọ trước. Nó được tạo nên bằng cách nối điểm Sella Turcica và Nasion.

    Mặt phẳng Bolton (đường màu hồng)

    Mặt phẳng này được tạo ra bằng cách nối dài đường thẳng từ điểm Bolton đến Nasion.

    Mặt phẳng khẩu cái

    Mặt phẳng khẩu cái được vẽ từ gai mũi trước (ANS) đến gai mũi sau (PNS) (đường màu xanh)

    Mặt phẳng nhai (OP chức năng, OP giải phẫu) (đường màu cam)

    Nó được mô tả đầu tiên bởi Down như là đường nối giữa mặt nhai các răng cối lớn đến vị trí chia đôi của độ cắn phủ (độ phủ của các răng trước theo chiều dọc), và cũng được biết đến với tên gọi là mặt mặt nhai giải phẫu. Sau này nó được thay đổi bằng đường thẳng đi qua mặt nhai các răng cối nhỏ và cối lớn và được biết đến với tên gọi là mặt phẳng nhai chức năng.

    Mặt phẳng ngang Frankfor
    NHỮNG ĐƯỜNG THẲNG VÀ MẶT PHẲNG THƯỜNG DÙNG TRÊN PHIM CEPHALOMETRIC MẶT BÊN

    Mặt phẳng hàm dưới

    Các mặt phẳng hàm dưới được định nghĩa bởi nhiều tác giả khác nhau dựa trên những kinh nghiệm lâm sàng của họ và việc sử dụng trên phân tích phim cephalometric.

    Tweed đã mô tả mặt phẳng hàm dưới như là một đường thẳng tiếp tuyến với bờ dưới xương hàm dưới.

    Down xem mặt phẳng hàm dưới là một đường thẳng nối giữa điểm Gonion và điểm Menton.

    Steiner vẽ mặt phẳng hàm dưới bằng cách nối giữa điểm Gonion và Gnathion

    Mặt phẳng hàm dưới
    Mặt phẳng hàm dưới

    Nguồn: bác sĩ Lương Thị Quỳnh Tâm

    Tham khảo thêm bài viết.

    🩺
    Đã được kiểm duyệt chuyên môn Bác sĩ Nha khoa Chuyên nghiệp – Chuyên gia Thiết bị Nha khoa, ANH & EM Dental
    Thạc sĩ Y khoa, Hội đồng Nha khoa Việt Nam
    Bài viết này cung cấp thông tin kỹ thuật và tham khảo về thiết bị nha khoa. Không thay thế cho tư vấn y tế chuyên nghiệp. Hãy tham khảo bác sĩ trước khi đưa ra quyết định điều trị.
    Tác giả

    Việt Trần

    Chuyên gia tư vấn giải pháp nha khoa tại Công ty ANH & EM.