Giải phẫu ống tủy ( Phần 2)

hình thể ống tủy của Kartal và Yanikoglu. B, Mặt ngoài; L, Mặt trong.

Hình 7 – 12. Biểu đồ mô tả hình thể ống tủy của Kartal và Yanikoglu. B, Mặt ngoài; L, Mặt trong.

 mô tả hình thể ống tủy của Gulabivala và cộng sự.

Hình 7 – 13. Biểu đồ mô tả hình thể ống tủy của Gulabivala và cộng sự.

Giải phẫu ống tủy

Trong các nghiên cứu in vitro.

Một lượng lớn các báo cáo đã mô tả nhiều kiểu hình thể ống tủy phức tạp. Một số tác giả đã lên án các nghiên cứu báo cáo những trường hợp “quái lạ” hiếm gặp. Tuy nhiên, các bài báo cáo về các trường hợp giải phẫu phức tạp trong nghiên cứu in vitro và in vivo dường như ngày càng tăng.

Điều này nhấn mạnh một điều rằng sẽ dễ nhận ra các hình thể phải phẫu hơn nếu như ta chuẩn bị sẵn sàng tâm lý để thấy nó.

Các loại hình thể ống tủy khác nhau theo nhóm chủng tộc. Chẳng hạn so với những người da trắng thì người gốc châu Phi có số lượng ống tủy phụ ở răng cối nhỏ thứ nhất hàm dưới cao hơn (33% so với 14%) và răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới (8% so với 3%).

Tỉ lệ phần trăm các loại hình thể ống tủy

Thêm vào đó những bệnh nhân gốc châu Á có tỉ lệ phần trăm các loại hình thể ống tủy khác với những nghiên cứu thực hiện trên người da trắng và da đen. Một điều khác biệt chủng tộc dễ nhận ra đó là tỉ lệ răng cối lớn thứ hai hàm dưới có một chân và ống tủy hình chữ C ở người châu Á cao hơn các vùng dân số khác.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều như vậy, sự xuất hiện của hai ống tủy ở chân ngoài gần của răng cối lớn thứ nhất hàm trên ở những bệnh nhân người Nhật Bản tương tự như mô tả trong các nhóm người khác. Tất cả những thông tin này cho thấy bác sĩ phải đối mặt với những hệ thống ống tủy phức tạp hằng ngày. Cần sử dụng tất cả các trang thiết bị, dụng cụ để có được kết quả lâm sàng thành công.

Kiểm tra sàn buồng tủy

Có thể thấy được những manh mối của vị trí miệng ống tủy và loại ống tủy. Cần lưu ý rằng nếu chỉ có một ống tủy hiên diện thì nó thường nằm tại trung tâm của xoang tủy. Tất cả các miệng ống tủy, đặc biệt là ống tủy hình oval cần thăm dò bằng cây trâm K nhỏ có đầu uốn cong trước (hình 7 – 14).

Nếu chỉ tìm thấy một miệng ống tủy và nó không nằm tại trung tâm của chân răng thì có nghĩa là còn một miệng ống tủy khác nữa, và nhà lâm sàng nên tìm nó ở phía đối diện (hình 7 – 15). Cần nhận thấy mối quan hệ giữa hai miệng ống tủy với nhau. Các miệng ống tủy càng gần nhau thì khả năng chúng nối với nhau tại một điểm trong chân răng càng cao. Khi khoảng cách giữa các miệng ống tủy càng xa thì khả năng chúng nằm tách riêng biệt càng cao.

Ống trâm đi vào ống tủy

Hướng của trâm đi vào các miệng ống tủy cũng rất quan trọng. Nếu trâm đầu tiên đi vào ống xa của răng cối lớn hàm dưới mà nằm thiên về phía ngoài hoặc phía trong thì nhà lâm sàng nên nghĩ tới việc còn có một ống tủy thứ hai. Nếu có hai ống tủy hiện diện, chúng thường nhỏ hơn so với khi có một ống tủy duy nhất.

Giải phẫu ống tủy Dùng một cây trâm uốn cong ở đầu để thăm dò một miệng ống tủy hình oval

Hình 7-14. Dùng một cây trâm uốn cong ở đầu để thăm dò một miệng ống tủy hình oval. Khi muốn xác định ống tủy ngoài, nhà lâm sàng nên uốn cong đầu trâm về phía ngoài rồi đặt đầu trâm vào miệng ống tủy. Một trâm với đầu được uốn cong về phía trong để thăm dò ống tủy trong.

Ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới với hai ống tủy, cả hai miệng ống tủy đều nằm trên đường nối gần

Hình 7-15. A, Ở răng cối lớn thứ hai hàm dưới với hai ống tủy, cả hai miệng ống tủy đều nằm trên đường nối gần – xa. B, Nếu hai miệng ống tủy không nằm trực tiếp trên đường nối gần – xa, cần phải tìm thêm một ống tủy khác ở phía đối diện, sử dụng định luật của Krasner và Rankow về đặc điểm giải phẫu học của vùng “X”. D, Phía xa; M, Phía gần.

Bất cứ một chân răng nào có hai ống tủy nối lại thành một ống thì hầu hết ống tủy trong là ống tủy đi thẳng đến chóp răng. Với đặc điểm giải phẫu loại này thì điều trị tốt nhất là sửa soạn và trám bít ống trong đến chóp và ống ngoài tới điểm nối. Nếu cả hai ống tủy đều mở rộng đến chóp thì kết quả sửa soạn ống tủy cho hình đồng hồ cát; điểm nối giữa hai ống tủy này sẽ hẹp hơn so với ở vùng chóp.

Xem thêm tài liệu.

Trám bít ống tủy

Trám bít những ống tủy kiểu này để lại những vùng trống ở 1/3 chóp và khả năng điều trị thất bại cao, đặc biệt khi các vi sinh vật và chất thải của chúng vẫn còn nằm trong ống tủy. Cần sử dụng thận trọng các dụng cụ quay nickel – titanium với ống tủy có hình thể giải phẫu dạng này vì dụng cụ có thể gãy nếu đi qua các đoạn ống tủy cong.

Khi một ống tủy chia làm hai, một ống ngoài và một ống trong, thường ống trong sẽ tách từ ống tủy chính tạo một góc nhọn, đôi lúc gần như một góc vuông (hình 7 – 16). Một nhà nghiên cứu đề nghị xem ống tủy này có dạng hình chữ “h”. Ống ngoài là đường thẳng đứng của chữ “h”; ống trong đi ra từ giữa chân răng tạo một góc nhọn với ống ngoài. Điều trị nội nha răng này cần tạo xoang tủy sao cho dụng cụ không bị cản trở khi đi vào ống trong.

Nhìn từ phía gần răng cối nhỏ hàm dưới cho hình ảnh ống tủy loại V theo Vertucci

Hình 7 – 16. A, Nhìn từ phía gần răng cối nhỏ hàm dưới cho hình ảnh ống tủy loại V theo Vertucci. Ống tủy phía trong chia ra từ ống tủy chính tạo thành một góc vuông. B, Hình ảnh giải phẫu này đòi hỏi phải mở rộng xoang tủy về phía trong tạo một đường đi thẳng vào ống tủy trong. Việc này nên thực hiện dưới kính hiển vi nha khoa.

Nguồn : Bác sĩ Lương Thị Quỳnh Tâm

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí