Chỉnh nha ( Phần 8): BỘ RĂNG CỐI VĨNH VIỄN

Răng cối vĩnh viễn

Bộ răng vĩnh viễn hình thành bên trong xương hàm sớm sau khi sinh. Quá trình canxi hoá bắt đầu lúc sinh với việc canxi hoá các múi của răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất và tiếp tục cho đến năm 25 tuổi. Hoàn thành canxi hoá thân răng cửa xảy ra ở tuổi thứ 4 đến 5 và của các răng vĩnh viễn khác ở tuổi thứ 6 đến 8 ngoại trừ răng cối lớn thứ ba. Vì vậy tổng thời kỳ canxi hoá răng là khoảng 10 năm. Các răng cửa vĩnh viễn phát triển về phía trong các răng cửa sữa và di chuyển về phía môi khi mọc lên. Răng cố nhỏ phát triển bên dưới vùng phân kỳ của các chân răng cối sữa.

Nolla (1960) đã đưa ra các giai đoạn phát triển răng từ phim panorex. Khoảng vào độ tuổi 13, tất cả các răng vĩnh viễn ngoại trừ răng cối lớn thứ ba sẽ mọc hoàn toàn trong miệng. Trước khi răng cửa sữa rụng, có 48 răng/bộ phận răng hiện diện trong xương hàm.

răng cối vĩnh viễn, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

Những đặc điểm của bộ răng vĩnh viễn bình thường:

  • Đường giữa trùng nhau
  • Tương quan răng cối lớn lớn thứ nhất ở hạng
  • Độ cắn sâu khoảng một phần ba chiều cao thân răng lâm sàng của răng cửa giữa hàm dưới
  • Độ cắn chìa: độ cắn chìa và cắn phủ giảm trong suốt thập kỷ thứ hai của đời sống do sự di chuyển tra trước nhiều hơn của xương hàm dưới.
  • Đường cong Spee: phát triển trong suốt giai đoạn chuyển đổi và ổn định ở tuổi trưởng thành.

152-163. PHÂN TÍCH TWEED

Tweed đã phát triển phân tích này để hỗ trợ cho việc lên kế hoạch điều trị, chuẩn bị neo chặn và đánh giá tiên lượng của các trường hợp chỉnh nha. Vào thời gian đó, điều được nhấn mạnh lớn nhất là vị trí của các răng cửa hàm dưới sao cho bảo tồn được kết quả chỉnh nha. Phân tích này chủ yếu dựa vào sự chênh lệch của xương hàm dưới được đo bằng góc mặt phẳng hàm dưới – Frankfort (FMA) và tư thế của các răng cửa hàm dưới. Phân tích này được thực hiện để xác định vị trí sau cùng của các răng cửa hàm dưới tại thời điểm kết thúc điều trị. Một khi vị trí sau cùng của các răng này được xác định, khoảng cần thiết cũng được tính toán, đưa ra quyết định có cần nhổ răng hay không. Bác sĩ Tweed đã đưa ra tiên lượng mang tính chính xác tương đối dựa vào cấu hình tam giác.

Mô tả

Phân tích bao gồm tam giác Tweed được hình thành bởi:

  1. Mặt phẳng ngang Frankfort
  2. Mặt phẳng hàm dưới
  3. Trục răng cửa hàm dưới

Do đó, ba góc được tạo thành đó là:

  1. Frankfort – mặt phẳng hàm dưới (FMA)
  2. Răng cửa hàm dưới – mặt phẳng hàm dưới (IMPA)
  3. Răng cửa hàm dưới – mặt phẳng Frankfort (FMIA)

Giá trị bình thường đó là:

FMA = 25 độ

IMPA = 90 độ

FMIA = 65 độ

ANB = 2 độ với khoảng từ 5 đến -2 độ

Lấy cơ sở là góc FMA, và những giá trị khác có thể suy ra từ sự thay đổi của giá trị góc này như sau:

1. FMA 16 độ đến 28 độ: tiên lượng tốt.

Tại 16 độ, IMPA nên là 90 độ + 5 độ = 95 độ

Tại 22 độ, IMPA nên là 90 độ

Tại 28 độ, IMPA nên là 90 độ – 5 độ = 85 độ

Khoảng 60% trường hợp sai khớp cắn có FMA nằm giữa 16 độ và 28 độ.

2. FMA từ 28 độ đến 35 độ, tiên lượng khá

Tại 28 độ, IMPA nên là 90 độ – 5 độ = 85 độ

Tại 35 độ, cần nhổ răng trong hầu hết các trường hợp

IMPA nên nằm trong khoảng 80 đến 85 độ

3. FMA trên 35 độ, tiên lượng xấu

Nhổ răng thường làm phức tạp vấn đề.

Tweed nhấn mạnh tầm quan trọng của góc FMIA, ông kiến nghị rằng nó nên duy trì ở giá trị 65 đến 70 độ.

Phân tích Tweed chủ yếu dành cho việc lên kế hoạch điều trị lâm sàng và không nên xem nó là một phân tích hoàn hảo. Bằng cách xác định vị trí của răng cửa hàm dưới, dự trù việc thay đổi vị trí hàm dưới và các răng cửa hàm trên được đặt theo các răng cửa hàm dưới. Vị trí lý tưởng của các răng cửa hàm dưới giúp đạt được kết quả ổn định, do đó, cho thấy được tiên lượng của trường hợp.

Bộ điều trị nội nha tích hợp Dentaport ZX

CHỈ SỐ WITS VẾ SỰ BẤT HÀI HOÀ HÀM

Chỉ số “Wits” về sự bất hài hoà giữa hai hàm được sử dụng một số đo và dùng để hỗ trợ việc chẩn đoán, mức độ bất hài hoà theo chiều trước sau của hàm có thể đo đạt được trên phim Cephalometric mặt bên. Nó được dùng như là một yếu tố hỗ trợ cho những phân tích khác, chủ yếu để xác nhận lại kết quả.

Góc ANB là giá trị thường sử dụng nhất để đánh giá mức độ bất hài hoà của mặt. Giá trị SNA cho biết liệu mặt có nhô hay lùi so với sọ. Góc ANB ở khớp cắn bình thường nhìn chung có giá trị là 2 độ. Góc này lớn hơn cho thấy khuynh hướng hạng II xương; nhỏ hơn (tiến đến giá trị âm) thì cho thấy bất hài hài hoà theo chiều trước sau hạng III. Chỉ số Wits hữu ích trong việc xác định trường hợp lâm sàng có giá trị góc ANB không phản ánh chính xác sai hình theo chiều trước sau của hàm.

Mối tương quan giữa hàm so với nền sọ theo mặt phẳng tham chiếu có biểu hiện không nhất quán là vì sự khác biệt về cấu trúc xương sọ – mặt và cũng vì khía cạnh muốn chú trọng đến, chẳng hạn như hàm nằm tách biệt điểm/mặt phẳng tham chiếu. Những biến thể xương sọ mặt bao gồm (1) mối tương quan trước sau của Nasion so với hàm (2) tương quan giữa kết quả của việc xoay hàm so với mặt phẳng tham chiếu ở sọ.

Đo góc ANB

Bất kỳ sự thay đổi tương đối nào ra trước hoặc lui sau của điểm Nasion do nền sọ trước quá dài hoặc ngắn (mà đại diện là đoạn SN) hoặc vị trí tương đối ra sau hoặc ra trước của cả hai hàm trong phức hợp sọ mặt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số đo góc ANB.

Xoay mặt phẳng SN theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ (do điểm Nasion hoặc Sella Turcica nằm ở vị trí tương đối thấp hoặc cao so với điểm còn lại) sẽ làm tăng hoặc giảm số đo SNA. Phân tích thông thường sẽ cho thấy xương hàm trên nằm về phía trước hoặc phía sau so với phức hợp sọ mặt. Tương tự như vậy, kết quả của việc xoay hàm so với tham chiếu mặt phẳng ở vùng sọ cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số đo góc ANB.

Độ tin cậy của góc ANB bị nghi ngờ trong những trường hợp góc mặt phẳng hàm dưới (góc giữa GoGn và SN) có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn so với giá trị trung bình 32 độ ± 5 độ.

Để xác định chỉ số Wits, chiều vuông góc điểm A và B lên mặt phẳng nhai (là đường thẳng vẽ qua vị trí lồng múi tối đa). Điểm chiếu này gọi là AO và BO.

Trong trường hợp hạng II xương, điểm BO nằm phía sau điểm AO (điểm A có giá trị dương), trong trường hợp hạng III xương thì BO nằm phía trước điểm AO.

Giá trị chỉ số Wits có độ lệch 1mm ở nam và 0 mm ở nữ, giá trị này càng lớn thì sự bất hài hoà theo chiều ngang càng lớn.

Nguồn: Bác sĩ Lương Thị Quỳnh Tâm

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí