PHẪU THUẬT TRONG CHỈNH NHA (P1) – PHẪU THUẬT MÔ MỀM

Phẫu thuật mô mềm là tất cả các thủ thuật kết hợp với chỉnh nha cần lên kế hoạch cẩn thận. Phân tích chi tiết trên lâm sàng, x quang và mẫu hàm cần thiết cho hầu hết các thủ thuật nếu muốn đạt được một kết quả ổn định và tiên đoán được.

VAI TRÒ CỦA PHẪU THUẬT ĐỐI VỚI CHỈNH NHA

Một số quy trình phẫu thuật có thể được thực hiện như là một phần của kế hoạch điều trị chỉnh nha toàn diện. Vai trò của can thiệp phẫu thuật là để:

1) Tạo điều kiện sửa chữa sai khớp cắn bằng kỹ thuật chỉnh nha
2) Giúp ổn định kết quả sau điều trị chỉnh nha
3) Ngăn ngừa tái phát

Những thủ thuật này không mang lại những thay đổi về cách thức ăn khớp của răng.

PHẪU THUẬT MÔ MỀM

Phẫu thuật mô mềm:CẮT THẮNG MÔI

Chỉ định

Khi khe thưa ở giữa bị gây ra bởi một thắng môi dày, ngắn, dạng sợi dính vào nhú nướu. Đôi khi thắng môi có thể chèn vào giữa vùng đường khớp giữa hàm trên ở mặt khẩu cái.

Cắt bỏ thắng môi thường được thực hiện chỉ sau khi việc mọc răng cửa bên và răng nanh vĩnh viễn không đóng được khe thưa ở giữa. Nó có thể được thực hiện trước hoặc sau khi điều trị chỉnh nha bằng khí cụ để điều chỉnh răng cửa giữa.

Kỹ thuật

Mục tiêu của cắt thắng môi là loại bỏ mô sợi giữa các chân răng cửa giữa để không cản trở việc đóng khe giữa các răng này bằng khí cụ.

Gây tê tại chỗ hai bên thắng môi và phụ tá kéo môi ra ngoài và tới trước khi tạo áp lực vào mặt bên, do đó giúp giảm chảy máu. Dùng dao số 15 cắt xuống xương lên hai bên của thắng môi, đi vào giữa răng và xung quanh nhú răng cửa. Dùng cây bóc tách nha chu nạo từ xương mặt trong và vùng giữa các răng. Điều này làm tách thắng môi ra, chỉ còn giánh ở môi và đầu tận cùng phía trước. Sau đó cắt thắng và đóng vết thương sau khi làm sạch tất cả mô sợi từ xương.

Khiếm khuyết còn lại từ nướu được bao phủ mô nha chu. Cắt chỉ sau 7 ngày.

Cắt chỉ sau 7 ngày.
RĂNG thưa sau khi cắt mô mềm
PHẪU THUẬT TRONG CHỈNH NHA (P1) - PHẪU THUẬT MÔ MỀM niềng răng
PHẪU THUẬT TRONG CHỈNH NHA (P1) - PHẪU THUẬT MÔ MỀM cắt mô mềm
PHẪU THUẬT TRONG CHỈNH NHA (P1) - PHẪU THUẬT MÔ MỀM khâu mô mềm

Phẫu thuật mô mềm: CẮT THẮNG LƯỠI

Lưỡi dính

Dải mô nối lưỡi với sàn miệng được gọi là thắng lưỡi. Thường thắng lưỡi này ngắn, dày hoặc chặt hoặc có thể kéo dài rất xa dọc theo lưỡi hoặc nướu. Một thắng lưỡi dày, lớn hoặc chặt bất thường có thể giới hạn nghiêm trọng sự chuyển động của lưỡi và tình trạng này được gọi là “lưỡi dính”. Tỉ lệ lưỡi dính khoảng 4.8 %. Thường gặp ở nam nhiều hơn (3:1).

Triệu chứng

Trẻ em có thể gặp khó khăn trong việc bú sữa khi còn là trẻ sơ sinh và sau đó có thể phát triển chậm. Bệnh nhân không thể dọn sạch thức ăn từ trần khẩu cái và từ rãnh môi má. Đôi khi có thể phát triển những bất thường ở răng cửa hàm dưới. Một số bệnh nhân có thể bị cắn hở vì lực kéo của thắng lưỡi lên hàm và đẩy lưỡi. Ở bệnh nhân mất răng có thể cản trở sự bám dính của hàm giả, gây dịch chuyển hàm mỗi khi lưỡi di chuyển.

bám dính

Đặc điểm lâm sàng

Lưỡi có hình trái tim khi nâng lưỡi lên. Bệnh nhân không thể kéo dài lưỡi đến một điểm và bị cong xuống khi kéo lưỡi ra trước. Khoảng cách kéo dài lưỡi ngắn bất thường thì cần chỉ định phẫu thuật cắt thắng lưỡi.

PHẪU THUẬT TRONG CHỈNH NHA (P1) - PHẪU THUẬT MÔ MỀM niềng răng1

Điều trị

Cắt thắng lưỡi được thực hiện bằng dao mổ hoặc laser CO2. Nhà phẫu thuật cắt thắng hoặc thực hiện tạo hình chữ Z để tăng tính di động của lưỡi. Khi thực hiện bằng laser, phẫu thuật ít chảy máu hơn, không cần khâu và thường ít gây khó chịu cho bệnh nhân sau phẫu thuật. Thủ thuật có thể được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, đôi khi cần thuốc an thần tiêm tĩnh mạch. Trẻ quá nhỏ có thể cần gây mê toàn thân.

điều tri cắt thắng lưỡi
Phẫu thuật mô mềm, Công ty Anh & Em | J. Morita Việt Nam

CẮT SỢI XUNG QUANH RĂNG

Chỉ định

Người ta thường cho rằng vị trí ổn định của răng trên cung hàm sau di chuyển răng trong chỉnh nha chỉ có thể đạt được khi mô liên kết của nướu đã tích nghi với môi trường mới. Các sợi nướu trên mào xương ổ của răng được di chuyển bằng chỉnh nha bị căng và trải qua quá trình tái thích nghi rất chậm. Sức kéo của các sợi này là tác nhân chính gây tái phát. Nếu những sợi trên mào xương được cắt và lành thương khi răng được giữ đúng vị trí thì sẽ giảm đáng kể tái phát do các sợi đàn hồi nướu. Tái bám dính của các sợi này ở vị trí thư giãn mới trên bề mặt chân răng giúp ổn định răng ở vị trí mới. Thủ thuật này hiệu quả khi kiểm soát tái phát của răng được chỉnh xoay.

Kỹ thuật

Kỹ thuật Edward: cắt các sợi quanh mào xương ổ răng (CSF) dưới gây tê tại chỗ, dùng dao số 11 đi qua rãnh nướu đến mào xương ổ răng. Đường cắt được thực hiện ở mặt bên mỗi bên răng bị xoay và dọc theo đường viền nướu mặt ngoài hoặc mặt trong. Không cần băng nha chu và bệnh nhân chỉ thấy hơi khó chịu nhẹ sau thủ thuật.

Kỹ thuật Edward: cắt các sợi quanh mào xương ổ răng

Kỹ thuật thay thế: dưới gây tê tại chỗ, một đường cắt được thực hiện ở chính giữa của gai nướu tách nó ra từ bên dưới đường viền nướu 1-2mm dưới chiều cao xương mặt ngoài và mặt trong.

Các thủ thuật này được thực hiện vào cuối giai đoạn hoàn tất trong điều trị chỉnh nha. Sau thủ thuật, răng được giữ yên thẳng hàng cho đến khi quá trình lành thương xảy ra trong một vài tuần.

BỘC LỘ RĂNG NGẦM

(Ví dụ: răng nanh)

Một răng nanh chưa mọc có thể cần phẫu thuật bộc lộ nếu:

1) Không có dấu hiệu mọc răng sau 12 tuổi.
2) Có đủ khoảng trên cung hàm hoặc có thể tạo khoảng bằng chỉnh nha hoặc bằng cách nhổ răng khác.
3) Có đường mọc răng không bị cản trở bởi những răng khác.
4) Chóp răng nanh có thể đóng bình thường sau khi mọc. Điều này sẽ xảy ra nếu răng mọc qua vị trí mà bình thường chóp răng nanh nằm ở đó.
5) Chân răng trên phim X quang không cong.

Kỹ thuật

Dưới gây tê tại chỗ hoặc toàn thân, thực hiện vết rạch hình chữ thập trên vị trí ước tính của thân răng chưa mọc. Bốn vạt hình tam giác được bóc tách và sau khi xác định vị trí thân răng thì cắt vạt. Dùng một cây đục sắc bén và áp lực từ bàn tay để loại bỏ phần xương phủ bên trên. Bộc lộ đỉnh múi, cingulum và phần nhô phía gần và xa của thân răng. Xương xung quanh được đục cẩn thận để tạo ra một khoang nông (tạo hố). Cần thận trọng để bảo tồn niêm mạc phía trong và ngoài và xương để đường viền nướu không bị tụt cao lên khi mọc răng. Khoang được băng bằng gòn tẩm với eugenol oxide kẽm dạng hồ bột trong 10-14 ngày. Một mũi khâu đệm nhằm lưu giữ phần băng này. Có thể gắn mắc cài tại thời điểm bộc lộ răng hoặc sau đó nhằm hỗ trợ kéo răng mọc.

Một thủ thuật tương tự như trên có thể được áp dụng để bộc lộ răng cối lớn vĩnh viễn thứ hai. Vạt có hình tam giác, với đáy rộng. Răng cối lớn thứ ba có thể bộc lộ thấy được trong cùng vị trí đó nếu như mong muốn.

bộc lộ răng cối lớn
phẫu thuật răng cối
niềng rưng cối
xử lý bộc lộ răng cối lớn

Nguồn: Gurkeerat Singh (2007), “Textbook of Orthodontics“, 2nd edition, Jaypee Brothers Medical Publishers (P) Ltd

Biên dịch: BS Lương Thị Quỳnh Tâm

Công ty Anh & Em Morita VIỆT NAM

Sharing is caring!

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí