TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1

Nong rộng cung răng là một trong những phương tiện cũ nhất để tạo khoảng cho cung răng. Nong rộng vẫn còn là một vấn đề mà các bác sĩ chỉnh nha vẫn đang tranh cãi. Nong nhanh so với nong chậm. Nếu nong nhanh thì nên thực hiện ở độ tuổi nào? Thời gian bao lâu? Và bao nhiêu là đủ? Khi nào nên nong nhanh và khi nào nên nong chậm? Những điều tranh cãi sẽ tiếp tục và việc sử dụng các thiết bị nong rộng cũng vậy. Điều rõ ràng đó là về căn bản thì thời gian thực hiện để đạt được độ nong rộng như mong muốn, các thiết bị nong rộng có thể được phân loại thành:

  • Khí cụ nong nhanh hàm trên
  • Khí cụ nong chậm.

KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Khí cụ nong nhanh được ghi nhận lần đầu tiên sử dụng vào năm 1860, khi C. Angell lần đầu tiên dùng một vít đôi để nong rộng cung răng trên ở một bé gái 14 tuổi rưỡi. Chiều rộng cung răng tăng lên 0.25 inch trong vòng 2 tuần với kết quả đường giữa bị hở. Dẫn chứng thứ hai về một thiết bị đơn giãn hơn mà không có sự sử dụng của ốc vít là vào năm 1877, khi Walter Coffin chứng minh sự mở rộng của cung răng hàm trên bằng cách dùng lò xo coffin.

Lò xo coffin được biết đến là nguyên nhân gây tách đường giữa ở trẻ em. Tuy nhiên, thiết bị nong nhanh hàm trên theo thời gian không còn được dùng phổ biến nữa. Khí cụ nong chậm vẫn còn tồn tại cho đến 1956 khi Korkhaus giới thiệu lại khi cụ này ở Mỹ. Đó là một công việc khó khăn, với những nghiên cứu rộng rãi trên động vật, Andrew Haas đã cho phổ biến khí cụ nong nhanh hàm trên.

TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1

Hình 2A. Mô hình mô tả khí cụ nong nhanh hàm trên của Emerson Angell

TRIẾT LÝ VỀ SỬ DỤNG KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Khí cụ nong nhanh hàm trên (RME: rapid maxillary expansion) về bản chất là một khí cụ nắn chỉnh xương – răng, tạo sự thay đổi bằng cách tách đường khớp giữa khẩu cái. Lý do là vì tác động lực mạnh lên xương khẩu cái, tách đường khớp giữa bên trong dẫn đến thay đổi xương thật sự. Răng thường được dùng cho mục đích truyền tải lực lên xương hàm trên.

GIẢI PHẪU ĐƯỜNG KHỚP GIỮA KHẨU CÁI VÀ XƯƠNG HÀM TRÊN

Khấu cái cứng được tạo thành từ mấu khẩu cái xương hàm trên và mấu hàm trên xương khẩu cái. Xương khẩu cái cùng với xương hàm trên cấu thành nên sàn mũi và một phần của thành bên xoang mũi. Xương khẩu cái khớp với xương hàm trên bởi một đường khớp ngang khẩu cái và đi lên thành bên của xoang mũi. Về phía sau, xương khẩu cái khớp với xương bướm. Xương hàm trên nối từ sau ra trước với các xương khác nhau bao gồm xương trán, xương sàn, xương mũi, xương lệ, xương gò má, v.v… Vì vậy, mặt trước và mặt sau xương tự do.

Đường nối giữa xương khẩu cái liên kết cặp xương khẩu cái với nhau và liên tục với đường khớp giữa xương hàm trên. Về mặt lý thuyết, nó tạo thành đường nối của ba cpawj xương đối diện nhau – xương tiền hàm, xương hàm trên và xương khẩu cái. Về mặt lâm sàng, chúng được điều trị như một thể thống nhất – đường nối giữa khẩu cái. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển của đường giữa khẩu cái trải qua ba giai đoạn riêng biệt. Nó cho thấy nhiều biến thể mang tính cá nhân lớn liên quan đến việc đóng khớp, trong khoảng từ 15 đến 19 tuổi. Mức độ đóng khớp xảy ra ở phía sau hơn là phía trước với sự đóng khớp tối đa ở những thập niên thứ ba của đời sống.

Xem thêm: Phương pháp tạo khoảng mài kẽ trong chỉnh nha

Xem thêm: Duy trì cố định có cầu dán

TÁC DỤNG CỦA KHÍ CỤ NONG NHANH HÀM TRÊN

Ở răng và xương ổ răng hàm trên

Các răng sau được sử dụng như là điểm tựa để truyền lực lên xương hàm trên. Chúng có khuynh hướng bị nghiêng ngoài do lực nén lên dây chằng nha chu ở phía chiu áp lực. Có sự uốn cong của mào xương ổ răng cạnh đó cùng với sự nghiêng và/hoặc trồi có giới hạn của răng.

Có sự xuất hiện của khoảng trống rõ rệt giữa hai răng cửa, xuất hiện trong các ngày đầu dùng khí cụ nong nhanh hàm trên. Khoảng trống này thường bằng nửa khoảng cách mà ốc nới rộng được kích hoạt. Khoảng trống này được báo cáo là sẽ đóng lại đồng thời trong vòng 6 tháng do lực kéo của các sợi xuyên vách.

TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1 ĐỘ NGHIÊNG TRONG BÌNH THƯỜNG

Hình 2B. (1) Độ nghiêng ngoài trong bình thường của răng cối neo chặn, (2) Răng cối neo chặn bị nghiêng ngoài

TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1 BỆNH NHÂN TRƯỚC VÀ SAU KHI ĐIỀU TRỊ

Hình 2C. Hình ảnh bệnh nhân trước và trong quá trình điều trị bằng Hyrax

TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1 HIỆU QUẢ NONG HÀM TRÊN

Hình 2Di. Hiệu quả nong nhanh hàm trên lên đường giữa khẩu cái. Lưu ý khe thưa ở đường giữa

TẠO KHOẢNG TRONG CHỈNH NHA, PHƯƠNG PHÁP NONG RỘNG CUNG RĂNG PHẦN 1 KHOẢNG TRỐNG ĐÓNG TRƯỚC 6THÁNG

Hình 2Dii. Khoảng trống đường giữa được đóng trong vòng 6 tháng do sự kéo của các sợi transeptal

Tác động lên xương hàm trên

Mấu xương khẩu cái tách ra thành một hình tam giác hoặc hình nêm khi nhìn từ mặt nhai. Các điểm phía trước và dưới nhất di chuyển tối đa. Một tam giác mở tương tự cũng được thấy theo hướng trước – sau, lớn nhất hướng về khoang miệng và ít dần về hướng mũi.

TÁCH ĐƯỜNG KHỚP Ở CÁI ĐƯỜNG GIỮA

Hình 2E. Tách đường khớp giữa khẩu cái hình tam giác khi nhìn từ phim mặt nhai

SỰ TÁCH HÀM TRÊN HÌNH TAM GIÁC

Hình 2F . Sự tách xương hàm trên hình tam giác khi nhìn theo chiều trước sau

Tác động lên xương hàm dưới

Xương hàm dưới xoay xuống dưới và ra sau do chuyển động xuống dưới của các răng sau hàm trên theo hướng mặt ngoài. Múi trong của các răng sau hàm trên, theo lý tưởng thì khớp với rãnh mặt nhai của các răng sau hàm dưới, nay có khuynh hướng khớp với sườn trong của múi ngoài các răng này, tạo hiệu ứng mở khớp cắn.

Lên xoang mũi và xương sọ cạnh đó

Khí cụ nong nhanh hàm trên có khuynh hướng tăng khoảng không gian trong mũi vì các thành ngoài của xoang mũi di chuyển sang hai bên và làm phẳng xương khẩu cái, khiến cho sàn mũi rộng hơn. Cải thiện đường thở bằng mũi là điều hầu như được chấp nhận rộng rãi. Mắt cũng như xương gò má có dấu hiệu tổ chức lại theo đường khớp, đặc biệt là ở những người trẻ.

  • Chỉ định dùng nong nhanh hàm trên

Khí cụ nong nhanh xương hàm trên được chỉ định lý tưởng ở những cá nhân đang tăng trưởng với cung hàm trên hẹp nghiêm trọng, liên quan đến việc cải thiện đường thở hoặc khuynh hướng thở miệng. Chúng cũng được chỉ định trong các trường hợp:

  • Cắn chéo răng sau với xương hàm trên hẹp thật sự hoặc tương đối hẹp
  • Bệnh nhân khe hở vòm miệng
  • Cùng với việc dùng facemask
  • Những trường hợp hạng III với xương hàm trên hẹp
  • Như là một phần của điều trị chỉnh nha can thiệp

Nguồn: Gurkeerat Singh (2007), “Textbook of Orthodontics“, 2 nd edition, Jaypee Brothers Medical Publishers (P) Ltd

Biên dịch: BS Lương Thị Quỳnh Tâm

By Công ty Anh & Em.

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí