Các thử nghiệm : Thử nghiệm tủy răng ( Phần 2 )

PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯU LƯỢNG MẠCH DOPPLER LAZER

Đo lưu lượng mạch Doppler Lazer (Laser Doppler Flowmetry – LDF) là phương pháp đánh giá lưu lượng mạch máu trong các hệ thống vi mạch. Người ta vẫn đang nổ lực để áp dụng kỹ thuật này để đánh giá lưu lượng máu của tuỷ răng. Một điôt (diode) được sử dụng để chiếu một chùm ánh sáng hồng ngoại qua thân răng vào buồng tuỷ. Chùm sáng hồng ngoại được phân tán ra khi nó xuyên qua mô tuỷ.

Nguyên tắc Doppler lazer

Nguyên tắc Doppler lazer là các tia sáng sẽ thay đổi tần số khi di chuyển qua các tế bào hồng cầu nhưng sẽ không thay đổi gì nếu di chuyển qua mô tĩnh. Từ giá trị thay đổi tần số Doppler trung bình sẽ đo được vận tốc di chuyển của hồng cầu.

Một vài nghiên cứu nhận thấy rằng LDF là phương pháp xác định lưu lượng mạch máu tuỷ răng chính xác, đáng tin cậy. Mặc dù vậy kỹ thuật này cũng chưa đủ thuận tiện để có thể sử dụng thường quy trong thực hành nha khoa.

Thử nghiệm lâm sàng

Trong một thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên các khuôn dẫn ổn định cho thấy việc đo kết quả LDF mất khoảng 1 giờ, phát hiện này không chỉ được tìm thấy ở nghiên cứu này mà còn thấy ở những nghiên cứu khác. Nếu như có thể phát triển kỹ thuật này sao cho thử nghiệm LDF hoàn thành trong vài phút thì nó có khả năng thay thế được phương pháp thử nghiệm nhiệt và điện.

Với những trường hợp chấn thương gây sai khớp nhất định thì kết quả thử điện và nhiệt sẽ thiếu tính chính xác, lúc này có thể chỉ định LDF để xác định độ sống tuỷ răng.

Các thử nghiệm : Thử nghiệm tủy răng

LƯU LƯỢNG OXY

Ưu điểm của những thiết bị thử nghiệm tuỷ như lưu lượng kế Doppler laser là thu thập các dữ liệu khách quan mà không dựa vào những đáp ứng chủ quan của bệnh nhân. Lưu lượng kế Oxy cũng là một thiết bị không xâm lấn khác.

Nó được sử dụng rộng rãi trong y khoa và được thiết kế để đo nồng độ oxy trong máu và tỉ lệ lưu lượng oxy. Lưu lượng kế Oxy hoạt động bằng cách truyền hai bước sóng ánh sáng đỏ và hồng ngoại qua một phần cơ thể của bệnh nhân (chẳng hạn như ngón tay, dái tai, hoặc răng).

Một số tia sáng được hấp thụ khi đi qua phần mô

Lượng ánh sáng được hấp thụ tuỳ thuộc vào tỉ lệ oxy hoá – khử oxy trong hemoglobin máu. Ở bên phía đối điện với mô thử nghiệm, người ta dùng một cảm biến phát hiện ánh sáng hấp thụ, và trên cơ sở sự khác biệt giữa ánh sáng phát tra và ánh sáng thu được sẽ tính toán được tỉ tệ lưu lượng và nồng độ oxy trong máu thông qua một bộ vi xử lý.

Sự truyền ánh sáng đến cảm biến đòi hỏi việc nó không bị cản trở bởi miếng trám/ phục hồi – đây đôi lúc cũng là hạn chế của phương pháp đo lưu lượng oxy nhằm thử nghiệm độ sống tuỷ.

Lưu lượng kế oxy

Những cố gắng dùng lưu lượng kế oxy để chẩn đoán độ sống tuỷ đã mang lại những kết quả tương tự như ở các thử nghiệm khác. Một vài nghiên cứu báo cáo rằng đo lưu lượng oxy là một phương pháp đáng tin cậy trong việc đánh giá độ sống tuỷ.

Những nghiên cứu khác lại phát biểu rằng các loại lưu lượng kế oxy hiện nay không nói trước được liệu có giá trị chẩn đoán độ sống tuỷ răng không. Hầu hết những vấn đề gặp phải liên quan đến công nghệ hiện nay đang sử dụng.

Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng dùng những thiết bị này để thử nghiệm tuỷ là quá rườm rà và phức tạp để áp dụng trong thực hành nha khoa thường qui. Tuy nhiên Gopikrishna và cộng sự đã phát triển được một cảm biến có thể đặt trực tiếp lên răng để xác định độ sống tuỷ, và nhận thấy rằng nó chính xác hơn so với thử điện và nhiệt. Những thiết bị này đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá những răng bị chấn thương.

Xem thêm Phần 3: TẠI ĐÂY

Viết một bình luận

Đăng ký sửa tay khoan miễn phí